Ngô Vệ Kiệt

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Ngô Vệ Kiệt
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. (2,0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0,25 điểm):

− Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.

− Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm): Cảm xúc về bài thơ "Mùa thu của em".

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (1,5 điểm):

Xác định được các ‎ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ‎ý‎:

– Ý 1) Cảm xúc về vẻ đẹp thiên thiên mùa thu:

+ Điệp từ mở đầu: Cụm từ "Mùa thu của em" khẳng định sự gắn kết, thân thuộc; mùa thu không phải khái niệm xa xôi mà thuộc về thế giới riêng của tuổi thơ.

+ Sắc vàng hoa cúc: Màu vàng tươi tắn, đặc trưng của hoa cúc mùa thu.

+ Biện pháp so sánh và nhân hoá: "Như nghìn con mắt/ Mở nhìn trời êm". Những cánh hoa xoè tròn được liên tưởng như ngàn mắt biếc ngây thơ mở to ngắm nhìn bầu trời thu trong xanh, tĩnh lặng.

+ Hình ảnh giàu sức gợi: "Mùi hương như gợi/ Từ màu lá sen". Sự kết hợp giữa vị dẻo thơm của hạt ngọc làng quê với sắc xanh mộc mạc của lá sen bọc ngoài đánh thức khứu giác và thị giác.

=> Học sinh nêu cảm xúc: Yêu thích, say mê trước vẻ đẹp tươi tắn, đáng yêu và bình yên của thiên nhiên mùa thu.

– Ý 2) Cảm xúc về mùa thu gắn liền với niềm vui tuổi thơ:

+ Sinh hoạt lễ hội: "Rước đèn họp bạn/ Hội rằm tháng tám" – không khí sum họp, ấm áp, trẻ em tụ hội cùng nhau vui đùa dưới ánh trăng.

+ Hình ảnh nhân hoá đáng yêu: "Chị Hằng xuống xem". Ánh trăng rằm sáng vằng vặc được hình dung như chị Hằng hiền dịu bước xuống trần gian cùng chia vui với các em nhỏ.

=> Học sinh nêu cảm xúc: Vui vẻ, háo hức và nhớ đến những kỉ niệm được rước đèn, phá cỗ, vui chơi cùng bạn bè trong đêm rằm tháng Tám.

– Ý 3) Cảm nhận về mùa thu gắn liền với trường học:

+ Không gian trường lớp thân thương: "Ngôi trường thân quen/ Bạn thầy mong đợi". Mùa thu trở nên thiêng liêng vì gắn liền với ngày khai giảng, nơi đón chào bước chân trở lại của học trò sau kì nghỉ hè.

+ Hành động giàu sức gợi: "Lật trang vở mới/ Em vào mùa thu". Động tác lật giở trang vở trắng tinh khôi tượng trưng cho sự khởi đầu, sẵn sàng đón nhận tri thức mới và bước vào một chặng đường trưởng thành mới.

=> Học sinh nêu cảm xúc: Ấm áp, hạnh phúc và thêm yêu mái trường, thầy cô, bạn bè; đồng thời có thêm động lực học tập, rèn luyện.

Câu 2. (4,0 điểm)

a. Xác định được kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng kiểu bài: Bài văn nghị luận.

b. Xác định được yêu cầu của kiểu bài (0,25 điểm):

Xác định đúng yêu cầu của đề: Hiện tượng học sinh chưa biết trân trọng những điều bình dị của cuộc sống.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết (3,5 điểm):

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn tự sự:

* Mở bài:

– Dẫn dắt: Bài thơ "Mùa thu của em" của Quang Huy mở ra cả một thế giới tuổi thơ ngọt ngào qua những điều vô cùng giản đơn: Một sắc cúc vàng, một hương cốm mới, đêm rước đèn cùng bè bạn hay giây phút lật trang vở mới ngày tựu trường.

– Nêu vấn đề: Những vần thơ trong trẻo ấy nhắc nhở chúng ta trăn trở về một thực tế đáng suy ngẫm: Một bộ phận không nhỏ học sinh hiện nay vẫn chưa biết nâng niu và trân trọng những điều bình dị, thân thương trong cuộc sống.

* Thân bài:

– Ý 1) Giải thích: Những điều bình dị của cuộc sống là những sự vật, sự việc và tình cảm gần gũi, quen thuộc hằng ngày, chẳng hạn như vẻ đẹp của thiên nhiên, bữa cơm gia đình, sự quan tâm của cha mẹ, tình bạn, lời dạy bảo của thầy cô hay niềm vui đến trường.

– Ý 2) Biểu hiện của hiện tượng:

+ Một số học sinh thờ ơ trước vẻ đẹp thiên nhiên, ít quan tâm đến cây cối, hoa lá, bầu trời hay những thay đổi của các mùa.

+ Chưa biết trân trọng tình cảm gia đình, coi sự chăm sóc của cha mẹ là điều đương nhiên, đôi khi còn cáu gắt, vô lễ hoặc thiếu quan tâm đến người thân.

+ Chưa biết quý trọng tình bạn, sự tận tình của thầy cô và những kỉ niệm đẹp dưới mái trường.

– Ý 3) Nguyên nhân của hiện tượng:

+ Nguyên nhân chủ quan:

++ Một số học sinh còn vô tâm, thiếu khả năng quan sát và cảm nhận những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

++ Học sinh có tâm lí coi những gì mình đang có là hiển nhiên nên không nhận ra giá trị của chúng.

+ Nguyên nhân khách quan:

++ Một số gia đình chú trọng vật chất, thành tích mà chưa quan tâm đầy đủ đến việc giáo dục con lòng biết ơn và sự trân trọng.

++ Nhịp sống hiện đại khiến con người dễ chạy theo những điều mới mẻ, hào nhoáng mà quên đi những giá trị gần gũi.

– Ý 4) Hậu quả của hiện tượng:

+ Khiến học sinh trở nên thờ ơ, vô tâm, khó cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và những niềm vui nhỏ bé.

+ Làm cho tình cảm gia đình, tình bạn và mối quan hệ với thầy cô trở nên xa cách.

+ Khiến bản thân dễ cảm thấy thiếu thốn, không hài lòng với cuộc sống vì luôn chạy theo những điều lớn lao hoặc vật chất.

– Ý 5) Giải pháp khắc phục:

+ Đối với học sinh:

++ Tập quan sát, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên và những niềm vui giản dị trong cuộc sống.

++ Biết yêu thương, quan tâm cha mẹ, ông bà, thầy cô và bạn bè bằng những hành động cụ thể.

++ Sử dụng điện thoại, mạng xã hội hợp lí; dành nhiều thời gian hơn cho việc đọc sách, vui chơi ngoài trời và trò chuyện với người thân.

+ Đối với gia đình và nhà trường:

++ Giáo dục học sinh lòng biết ơn, tình yêu thiên nhiên và sự quan tâm đến mọi người.

++ Tổ chức các hoạt động trải nghiệm, thiện nguyện, sinh hoạt tập thể để học sinh biết yêu thương, sẻ chia và cảm nhận giá trị của cuộc sống.

* Kết bài: Khẳng định hiện tượng học sinh chưa biết trân trọng những điều bình dị của cuộc sống là vấn đề đáng quan tâm và cần được khắc phục.

Câu 1. (0,5 điểm)

Bài thơ "Mùa thu của em" được viết theo thể thơ bốn chữ.

Câu 2. (0,5 điểm)

Mùa thu được miêu tả qua các hình ảnh:

− Hoa cúc vàng.

− Canh cốm mới.

− Rước đèn, hội rằm tháng Tám.

− Ngôi trường, bạn bè, thầy cô, trang vở mới.

Câu 3. (1,0 điểm)

− Biện pháp tu từ: So sánh sắc vàng của hoa cúc với "nghìn con mắt mở nhìn trời êm".

− Tác dụng của biện pháp tu từ:

+ Khắc hoạ hình ảnh hoa cúc mùa thu nở rộ vô cùng sinh động, lung linh và tràn đầy sức sống như những đôi mắt ngây thơ, trong trẻo xoè mở ngước nhìn bầu trời thu dịu mát, yên bình.

+ Bộc lộ sự quan sát tinh tế, hồn nhiên cùng tình yêu thiên nhiên tha thiết của bạn nhỏ.

+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ.

Câu 4. (1,0 điểm)

Niềm vui của bạn nhỏ ở khổ thơ cuối bài:

− Sự háo hức, rộn rã và phơi phới niềm tin khi bước vào năm học mới: Mùa thu không chỉ mang vẻ đẹp của thiên nhiên hay không khí Tết Trung thu mà còn là mùa khai trường.

− Niềm hạnh phúc khi trở lại mái trường: Bạn nhỏ vui mừng khi được trở lại "ngôi trường thân quen", hội ngộ cùng thầy cô, bạn bè sau kì nghỉ hè và tự tay "lật trang vở mới" mở ra một chặng đường tri thức mới đầy hứa hẹn.

Câu 5. (1,0 điểm)

Học sinh trình bày suy nghĩ về mối quan hệ giữa thiên nhiên và cảm xúc con người. Gợi ý:

− Thiên nhiên và tâm hồn con người không tồn tại tách biệt mà luôn có sự gắn kết, soi chiếu và ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau.

− Thiên nhiên đẹp thường gợi cho con người những cảm xúc tích cực, vui tươi.

− Cảm xúc con người cũng làm cho thiên nhiên trở nên sinh động hơn.

Trả lời


Hướng dẫn giải

a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn phát biểu cảm nghĩ

Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn tự sự (khoảng 400 ± 100 chữ).

b. Xác định đúng yêu cầu của đề bài

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Chiều đồng nội của Nguyễn Lãm Thắng sau khi đọc.

c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu

HS biết triển khai theo bố cục của một bài văn phát biểu cảm nghĩ. Sau đây là gợi ý:

c1. Mở bài: 

– Giới thiệu được tên bài thơ, tên tác giả và nội dung chính.

– Khái quát ấn tượng chung về bài thơ.

c2. Thân bài:

* Phát biểu cảm nghĩ về nội dung bài thơ:

– Bài thơ nhắc đến những hình ảnh thiên nhiên nào?

– Những hình ảnh đó gợi lên cho em cảm xúc gì?

– Em có nhận xét gì về bức tranh thiên nhiên đó?

Ví dụ: Bức tranh thiên nhiên gần gũi, bình dị chốn làng quê với những sự vật quen thuộc của đồng nội và đặc trưng của mùa thu. Đó là những giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng. Là những cánh chim bay trong những buổi chiều thu êm ả. Là những thảm cỏ mướt xanh điểm xuyết những bông hoa dại. Những cánh cò trắng chầm chậm trôi, những đàn trâu thung thăng đi về trên cánh đồng xanh. Đó còn là những sóng lúa nhấp nhô, đều tăm tắp êm ả. Là hương thơm ngát mùi lúa chín vào mỗi buổi chiều. Và đó là những làn khói bếp toả ra như gọi trăng thu xuống gần. Tất cả những hình ảnh đó thật thân thương đối với em, gợi em nhớ đến làng quê yên bình mỗi chiều về.

* Phát biểu cảm nghĩ về nghệ thuật bài thơ:

–  Thể thơ 5 chữ gần gũi, mộc mạc.

– Các biện pháp tu từ được sử dụng linh hoạt như so sánh mùa thu như tay mềm, nhân hoá qua hình ảnh mùa thu chạm lên từng thảm lúa, Bếp nhà ai toả khói/ Gọi trăng thu xuống gần.

– Sử dụng nhiều từ láy, từ ngữ giàu tính gợi hình, gợi cảm như trong veo, mướt xanh, nhanh nhanh, chậm rãi, nhấp nhô.

c3. Kết bài: 

– Khẳng định giá trị của bài thơ và cảm xúc của bản thân về bài thơ.

– Nêu bài học rút ra qua bài thơ.

Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản trên được viết theo thể thơ năm chữ.

Câu 2. (0,5 điểm) 

Các chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên xuất hiện trong bài thơ là:

– Những giọt thu trong veo/ rắc ngang qua đồng nội.

– Cánh chim bay xuống chiều.

– Cỏ thơm cùng hoa dại.

– Cánh cò trôi nhanh nhanh.

– Đàn trâu về chậm rãi.

– Cánh đồng chiều thật êm/ Nhấp nhô đều sóng lúa.

– Bếp nhà ai toả khói.

Câu 3. (1,0 điểm)

– Từ láy: nhấp nhô.

– Tác dụng: Gợi nên khung cảnh những bông lúa xô vào nhau, nâng lên, hạ xuống tạo nên những đợt sóng dập dờn. Từ đó, ta thấy được vẻ đẹp thơ mộng, bình yên của cánh đồng lúa khi thu về.

Câu 4 (1,0 điểm)

– Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.

– Đó là bức tranh thiên nhiên mùa thu yên bình, êm ả thơ mộng.   

Câu 5. (1,5 điểm) 

– Chỉ ra: Biện pháp nhân hoá: bếp được nhân hoá qua từ gọi.

– Tác dụng:

+ Khiến cho sự vật trở nên sinh động, gợi hình, gợi cảm, gần gũi với con người.

+ Gợi ra hình ảnh những làn khói bếp cuộn lên như chạm đến bầu trời, hoà quyện vào vầng trăng đêm. Con người và thiên nhiên như xích lại gần nhau. Từ đó, tạo nên bức tranh đêm thu huyền ảo, thơ mộng.

+ Qua đó, ta cảm nhận được cái nhìn tinh tế cùng tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước của tác giả.

Câu 6. (1,5 điểm) 

– Học sinh kể lại được một kỉ niệm với quê hương gợi ra từ bài thơ.

– Nêu được thông điệp tác giả muốn truyền tải.

Gợi ý:

+ Yêu quê hương, đất nước.

+ Gắn bó, gần gũi với thiên nhiên.

Câu 1. (0,5 điểm)

Bài thơ "Đất nước là gì?" được viết theo thể thơ bốn chữ.

Câu 2. (0,5 điểm)

− Học sinh chỉ ra được 02 hình ảnh cảnh sắc thiên nhiên của đất nước được miêu tả trong bài thơ.

− Một số hình ảnh cảnh sắc thiên nhiên của đất nước được miêu tả trong bài thơ: Núi cao, Biển rộng, sông, làn khói trắng,...

Câu 3. (1,0 điểm)

− Biện pháp tu từ: Nhân hoá (hành động "khoe" vốn là của con người nhưng được gán cho mặt trời − sự vật).

− Tác dụng:

+ Về mặt hình thức: Làm cho hình ảnh thơ trở nên sinh động, giàu sức gợi.

+ Về mặt nội dung: Làm cho hình ảnh mặt trời trở nên gần gũi, vui tươi và có sức sống, góp phần tạo nên bức tranh thiên nhiên tươi sáng.

Câu 4. (1,0 điểm)

− Ban đầu, bạn nhỏ băn khoăn, tò mò, đặt câu hỏi đất nước là gì và liệu có thể nhìn thấy, đo đếm được hay không.

− Sau đó, bạn dần mở rộng cách cảm nhận: Đất nước là gia đình, Tổ quốc, tiếng Việt, thiên nhiên và những điều bình dị.

− Cuối cùng, bạn nhận ra đất nước không phải một khái niệm xa vời mà được "cộng" lại từ mọi điều giản đơn trong cuộc sống.

Câu 5. (1,0 điểm)

− Học sinh trả lời theo quan điểm cá nhân.

− Đáp án tham khảo:

+ Tình yêu quê hương không nhất thiết bắt đầu từ những điều lớn lao mà có thể bắt đầu từ gia đình, trường học, tiếng nói, cảnh vật và những trải nghiệm quen thuộc.

+ Mỗi người cần quan sát, tìm hiểu và trân trọng những giá trị xung quanh mình để hiểu hơn về quê hương.

+ Từ tình yêu quê hương, cần có ý thức giữ gìn cảnh quan, văn hoá và những giá trị tốt đẹp của đất nước.

Câu 1. (2,0 điểm)

a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Bảo đảm yêu cầu về hình thức, nội dung, dung lượng và thể hiện được cảm xúc phù hợp.

− Xác định đúng yêu cầu: Ghi lại cảm xúc sau khi đọc bài thơ "Đất nước là gì?" (Huỳnh Mai Liên).

− Có thể triển khai đoạn văn theo nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng cần thể hiện được cảm xúc, suy nghĩ về hình ảnh đất nước được gợi ra từ bài thơ.

− Dung lượng đoạn văn: Khoảng 200 chữ.

− Bằng chứng: Kết hợp cảm xúc, suy nghĩ với các hình ảnh, câu thơ được trích từ bài thơ.

b. Yêu cầu cụ thể (1,5 điểm): Trình bày cảm xúc theo trình tự hợp lí, kết hợp cảm nhận về nội dung và một số đặc sắc nghệ thuật của bài thơ.

− Ý 1) Ấn tượng, thích thú trước cách khám phá hình ảnh đất nước qua góc nhìn trẻ thơ:

+ Bài thơ mở đầu bằng những câu hỏi hồn nhiên: "Đất nước là gì/ Vẽ bằng bút chì/ Có vừa trang giấy?". Những câu hỏi ngây thơ thể hiện sự tò mò, ham khám phá về đất nước.

+ Qua các câu hỏi ấy, hình ảnh đất nước dần được mở rộng, từ những điều lớn lao như "Núi cao", "Biển rộng" đến những điều gần gũi trong cuộc sống.

− Ý 2) Xúc động, yêu mến trước hình ảnh đất nước bình dị, thân thương:

+ Đất nước hiện diện trong gia đình và cuộc sống hằng ngày: "Là mẹ là cha/ Là cờ Tổ quốc", "Tiếng Việt dịu dàng", "Là đường con bước/ Là sông con bơi".

+ Những hình ảnh quen thuộc khiến khái niệm đất nước trở nên gần gũi, dễ hiểu; từ đó gợi tình yêu gia đình, quê hương và niềm tự hào về đất nước.

− Ý 3) Trân trọng thông điệp của bài thơ và những nét nghệ thuật nổi bật:

+ Bài thơ được viết theo thể thơ bốn chữ, câu thơ ngắn, nhịp điệu nhẹ nhàng, phù hợp với cách nhìn trong trẻo, hồn nhiên của trẻ em.

+ Điệp cấu trúc "Là..." được sử dụng nhiều lần, kết hợp với hàng loạt hình ảnh gần gũi, giúp khẳng định đất nước được tạo nên từ những điều bình dị quanh cuộc sống.

+ Câu kết "Mọi điều giản đơn/ Cộng thành đất nước" đem đến một cách nhìn sâu sắc: Đất nước không xa xôi mà được kết tinh từ gia đình, tiếng nói, cảnh vật, cuộc sống và những điều thân thuộc mỗi ngày.

+ Qua đó, hình thành tình cảm yêu quê hương, tự hào về đất nước và ý thức trân trọng, gìn giữ những điều bình dị làm nên vẻ đẹp của Tổ quốc.

➜ Bài thơ gợi lên tình yêu mến, niềm tự hào về đất nước và giúp nhận ra rằng đất nước luôn hiện diện trong những điều gần gũi, giản dị của cuộc sống; từ đó cần biết trân trọng, yêu thương và có ý thức giữ gìn quê hương, Tổ quốc.

Câu 2. (4,0 điểm)

Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung (0,5 điểm): Xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về ngôn ngữ, đúng phương thức biểu đạt.

− Xác định đúng vấn đề nghị luận: Hiện tượng một số học sinh chưa quan tâm đến việc gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.

− Bảo đảm yêu cầu về dung lượng bài văn: Khoảng 400 chữ.

− Sử dụng bằng chứng: Từ thực tế đời sống và trải nghiệm cá nhân.

b. Yêu cầu cụ thể (3,5 điểm): Cần triển khai bài viết theo bố cục hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. Cần bảo đảm các yêu cầu sau:

b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận:

− Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận.

+ Dẫn dắt: Đất nước còn được tạo nên từ những giá trị văn hoá truyền thống mà cha ông đã gìn giữ và truyền lại qua nhiều thế hệ.

+ Nêu vấn đề nghị luận: Hiện nay, một số học sinh chưa thực sự quan tâm đến việc gìn giữ những giá trị ấy. Đây là hiện tượng đáng suy ngẫm.

− Kết bài: Khẳng định lại vấn đề: Hiện tượng một số học sinh chưa quan tâm đến việc gìn giữ văn hoá truyền thống là vấn đề cần được chú ý và khắc phục.

b2. Bàn luận vấn đề nghị luận:

− Ý 1) Giải thích vấn đề: Giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc là những di sản vật chất và tinh thần được hình thành, gìn giữ và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, như tiếng Việt, phong tục tập quán, lễ hội, trang phục truyền thống, nghệ thuật dân gian, các di tích lịch sử và truyền thống yêu nước, hiếu học.

− Ý 2) Biểu hiện của hiện tượng:

+ Một số học sinh ít tìm hiểu lịch sử dân tộc, các lễ hội truyền thống, phong tục tập quán và những di sản văn hoá của quê hương.

+ Chưa có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; sử dụng ngôn ngữ tuỳ tiện, lạm dụng tiếng lóng hoặc từ ngữ nước ngoài không cần thiết.

+ Thờ ơ với các loại hình nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng, dân ca; chỉ quan tâm đến những trào lưu giải trí hiện đại.

− Ý 3) Nguyên nhân:

+ Nguyên nhân chủ quan:

++ Một số học sinh chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và giá trị của văn hoá truyền thống.

++ Tâm lí thích cái mới lạ, chạy theo xu hướng mà chưa biết chọn lọc những giá trị phù hợp.

++ Thiếu sự chủ động tìm hiểu lịch sử, văn hoá dân tộc qua sách báo, hoạt động trải nghiệm và các nguồn thông tin đáng tin cậy.

+ Nguyên nhân khách quan:

++ Sự phát triển của internet và văn hoá nước ngoài khiến học sinh dễ bị cuốn theo các xu hướng hiện đại.

++ Một số hoạt động giáo dục văn hoá truyền thống chưa đủ hấp dẫn để thu hút học sinh.

− Ý 4) Hậu quả:

+ Khiến học sinh thiếu hiểu biết về lịch sử, nguồn cội và những giá trị làm nên bản sắc dân tộc.

+ Làm giảm sự gắn bó với quê hương, đất nước và niềm tự hào về truyền thống dân tộc.

− Ý 5) Giải pháp khắc phục:

+ Đối với học sinh:

++ Chủ động tìm hiểu lịch sử, phong tục, lễ hội, di tích và các loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

++ Sử dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin chính xác, giới thiệu những nét đẹp của văn hoá Việt Nam.

++ Tiếp thu tinh hoa văn hoá thế giới một cách có chọn lọc, không phủ nhận hoặc xem nhẹ giá trị văn hoá dân tộc.

+ Đối với gia đình, nhà trường: Nhà trường nên tổ chức các hoạt động ngoại khoá, cuộc thi tìm hiểu lịch sử, trải nghiệm nghệ thuật dân gian để khơi dậy hứng thú của học sinh.