Nguyễn Ngọc Ánh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Ngọc Ánh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

NGTA K XÉT ĐÂU Á , LẤY ĐIỂM 4 NĂM CẤP 2 ĐỂ XÉT DUYỆT A

A Wonderful Trip to Ha Long Bay

Last summer, I went on a trip to Ha Long Bay with my family. It is one of the most beautiful places in Vietnam, located in Quang Ninh province, about 170 kilometers from Hanoi.

We left early in the morning and arrived after about three hours of traveling. As soon as we reached the coast, I was amazed by the view: thousands of limestone islands rising out of clear blue water, like giant green castles floating on the sea. We took a cruise boat to visit different spots. We sailed through rocky caves, climbed up Ti Top Island to see the whole bay from above, and swam in the cool, clean water. In the evening, we ate fresh seafood right on the boat – grilled squid, sweet shrimp, and steamed fish, all so delicious.

The trip was tiring but so much fun. I learned more about nature and got closer to my family. Ha Long Bay is truly a treasure, and I hope I can visit it again someday.
11:18/-strong/-heart:>:o:-((:-h

MY NAME IS ANH END TO DAY I LIVE IN HALONGBAY Ha Long Bay is located in Quang Ninh Province, specifically in Cam Pha and Van Don districts.

a. Xác định được kiểu bài:

– Xác định đúng kiểu bài: Bài văn nghị luận.

– Bảo đảm yêu cầu về bố cục của bài viết.

b. Xác định được yêu cầu của đề bài:

Trình bày quan điểm tán thành với quan điểm: "Khen ngợi người khác không làm mình kém đi.".

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để triển khai bài viết:

– Xác định được các ý chính của bài viết.

– Sắp xếp được các ý hợp lí theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận:

c1. Mở bài: Nêu vấn đề nghị luận và trình bày quan điểm tán thành về vấn đề ấy.

– Trong cuộc sống, mỗi người đều có nhu cầu được ghi nhận và tôn trọng. Tuy nhiên, nhiều người e ngại khen ngợi người khác vì sợ bản thân bị lép vế hoặc mất đi vị thế.

– Thể hiện ý kiến tán thành với quan điểm "Khen ngợi người khác không làm mình kém đi" vì khen ngợi là hành động cao đẹp, thể hiện sự văn minh và biết trân trọng người khác.

c2. Thân bài:

* Trình bày thực chất của ý kiến, quan niệm đã nêu để bàn luận:

– "Khen ngợi người khác": Nhận ra và nói lời tốt về tài năng, phẩm chất, thành tích của người khác.

– "Không làm mình kém đi": Việc khen người khác không khiến giá trị bản thân bị giảm, trái lại còn tạo thiện cảm, mối quan hệ tốt.

➞ Ý nghĩa tổng thể: Câu nói nhắc nhở mỗi người hãy biết trân trọng người khác, khích lệ và học hỏi, không sợ bản thân bị lép vế.

* Thể hiện thái độ tán thành ý kiến vừa nêu bằng các ý:

– Khen ngợi người khác giúp xây dựng mối quan hệ tốt đẹp: Khi biết khen ngợi, ta tạo ra môi trường hoà nhã, thân thiện, được mọi người quý mến và tôn trọng. Ví dụ, trong lớp học, khi khen một bạn học giỏi, không ai nghĩ bạn kém đi; ngược lại, bạn được các bạn yêu mến hơn. Hay trong công việc, lãnh đạo khen ngợi nhân viên xuất sắc sẽ tạo không khí làm việc tích cực, gắn kết đồng nghiệp.

– Khen ngợi người khác giúp bản thân học hỏi và phát triển: Khi công nhận ưu điểm của người khác, ta vừa học hỏi, vừa rèn luyện bản thân để tốt hơn. Ví dụ, các nhà khoa học, nghệ sĩ thường chia sẻ, khen ngợi đồng nghiệp, nhờ đó họ vừa duy trì mối quan hệ tốt vừa tích cực học hỏi để nâng cao năng lực bản thân. Hay trong đời sống hằng ngày, khi thấy bạn bè chăm chỉ, sự khen ngợi sẽ khích lệ họ tiếp tục cố gắng, đồng thời bản thân ta cũng được truyền cảm hứng để tiến bộ.

c3. Kết bài: Khẳng định tính xác đáng của ý kiến và sự cần thiết của việc tán thành ý kiến đó.

– Khẳng định lại quan điểm: Khen ngợi người khác không làm mình kém đi mà còn giúp xã hội văn minh và mỗi người ngày một hoàn thiện hơn.

– Nhấn mạnh sự cần thiết áp dụng quan điểm này trong đời sống: Mỗi người hãy mạnh dạn khen ngợi, biết trân trọng tài năng và phẩm chất của người khác, từ đó tạo ra môi trường sống tích cực, tốt đẹp hơn thế nuâws


a. Đảm bảo cấu trúc bài văn tự sự: Đủ 3 phần mở bài, thân bài, kết bài; các ý được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.

b. Xác định đúng yêu cầu của đề: Viết bài văn phân tích nhân vật cậu bé nạo ống khói trong văn bản trên. 

c. Đảm bảo yêu cầu của kiểu bài:

HS triển khai bài viết dựa trên các yêu cầu sau:

– Phân tích được nhân vật dựa trên những phương diện được thể hiện như ngoại hình, hoàn cảnh, phẩm chất,…

– Chỉ ra được mối quan hệ giữa nhân vật với những nhân vật khác trong truyện.

– Nhận xét, đánh giá được về chủ đề, ý nghĩa, thông điệp của truyện được thể hiện qua nhân vật.

d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

e. Sáng tạo: Lời văn giàu hình ảnh, cảm xúc.

Chiều qua, tôi đến khu nữ sinh, ở cạnh khu Ba-ret-ti của chúng tôi, để đưa cho cô giáo của em Siu-vi-a bài chép về truyện cậu bé Pa-đô-va mà cô muốn đọc. Trong khu có đến bảy trăm nữ sinh.

      Lúc tôi đến thì học trò bắt đầu ra về, ai nấy đều vui vẻ được nghỉ một đợt vào những ngày đầu tháng mười một.

      Trước cổng trường, bên kia đường phố, một cậu bé nạo ống khói đang đứng, tay tựa vào tường, đầu gục vào tay. Người cậu đen ngòm những bồ hóng, cũng như cái bị, mấy cái chổi và cái nạo của cậu, và cậu khóc nức nở, não nuột quá chừng.

      Hai ba nữ sinh lớp hai lại gần, hỏi cậu tại sao mà khóc như vậy.

      Nhưng cậu bé nạo ống khói không trả lời, và cứ khóc mãi.

      Các bạn nữ sinh lại hỏi:

      - Kìa, nói đi, bạn làm sao vậy? Tại sao bạn khóc?

      Cậu bé bỏ cánh tay xuống, để lộ một gương mặt trông hết sức hiền hậu, và kể lại là đi nạo mấy ống khói, được số tiền cộng lại là ba hào, nhưng chẳng may rơi mất, vì vô ý bỏ vào cái túi áo thủng...

      Cậu bé tội nghiệp không dám trở về nhà chủ vì sợ bị đánh.

      Nói rồi, cậu lại càng khóc thảm thiết hơn, đầu gục vào cánh tay như một kẻ tuyệt vọng.

      Các nữ sinh nhìn nhau, vẻ mặt rất nghiêm chỉnh; một số nữa cũng kéo đến, bé có, lớn có, con em những công nhân nghèo cũng như con nhà giàu, tay ôm cặp sách. Một nữ sinh vào loại lớn, đội cái mũ có cắm chiếc lông chim xanh, lấy hai đồng xu trong túi ra và nói:

      - Mình chỉ có hai xu, nhưng chúng ta hãy góp nhau lại.

      - Mình cũng có hai xu đây, - một cô bé mặc áo đỏ nói, - thế nào tất cả chúng ta cũng kiếm đủ ba hào!

      Thế là các nữ sinh lên tiếng gọi: “A-ma-li-a, Lui-gi-na, An-ni-na, một xu nhé. Ai có xu đưa đây!”.

      Một vài cô mang tiền đi mua vở và mua hoa. Họ liền vội vàng đem tiền đến. Những cô khác bé hơn biếu những đồng trinh. Cô nữ sinh đội mũ cắm chiếc lông xanh, thu tiền và lên tiếng đếm:

      - Tám, mười, mười lăm xu! Chưa đủ, phải thêm nữa!

      Một chị con gái, hình như là phụ giáo, đi tới và cho một hào. Tất cả nữ sinh tíu tít hoan nghênh chị. Thế là chỉ còn thiếu năm xu nữa thôi.

      - Kìa, các chị lớp bốn đang tới kìa, họ có tiền đấy, - một em bé nói.

      Lớp bốn tới nơi, tiền lại càng nhiều. Các bạn nữ sinh xúm quanh cậu bé nạo ống khói; và thật là thích mắt nhìn cái cảnh cậu bé đen ngòm, hiền hậu, ở giữa đám nữ sinh xinh xắn, đáng yêu mặc quần áo đủ màu, tóc xõa phất phới, người cắm lông chim tươi màu, kẻ thắt ruy băng bằng lụa. Số tiền ba hào đã đủ, nhưng xu vẫn tiếp tục đổ ra như mưa. Những em bé không có tiền, cũng lách qua giữa các chị lớn, đem cho những chùm hoa nho nhỏ, gọi là cũng góp phần mình.

      Bỗng bác gác cổng chạy tới, nói to: “Bà hiệu trưởng đến”.

      Tức thì các nữ sinh bỏ chạy tứ tung như một đàn chim sẻ.

      Cậu bé nạo ống khói còn lại một mình trên đường phố, đứng lau nước mắt. Không những hai tay cậu đầy cả xu mà các bạn nữ sinh còn luồn vào khuyết áo của cậu, đút vào túi áo, và cả trong mũ của cậu không biết bao nhiêu là chùm hoa nho nhỏ.


– Biện pháp tu từ so sánh: xu vẫn tiếp tục đổ ra như mưa.

– Tác dụng: Giúp cho hình ảnh trong câu văn trở nên sinh động hơn; đồng thời nhấn mạnh sự sẻ chia và tấm lòng nhân hậu, hào hiệp của các bạn học sinh trong trường dành cho cậu bé nạo ống khói đáng thương. 


 Học sinh kể lại được một kỉ niệm với quê hương gợi ra từ bài thơ.

– Nêu được thông điệp tác giả muốn truyền tải.

Gợi ý:

+ Yêu quê hương, đất nước.

+ Gắn bó, gần gũi với thiên nhiên.

a. Bảo đảm yêu cầu về bố cục, dung lượng của bài văn phát biểu cảm nghĩ

Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng của bài văn tự sự (khoảng 400 ± 100 chữ).

b. Xác định đúng yêu cầu của đề bài

Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Chiều đồng nội của Nguyễn Lãm Thắng sau khi đọc.

c. Viết được bài văn đảm bảo các yêu cầu

HS biết triển khai theo bố cục của một bài văn phát biểu cảm nghĩ. Sau đây là gợi ý:

c1. Mở bài: 

– Giới thiệu được tên bài thơ, tên tác giả và nội dung chính.

– Khái quát ấn tượng chung về bài thơ.

c2. Thân bài:

* Phát biểu cảm nghĩ về nội dung bài thơ:

– Bài thơ nhắc đến những hình ảnh thiên nhiên nào?

– Những hình ảnh đó gợi lên cho em cảm xúc gì?

– Em có nhận xét gì về bức tranh thiên nhiên đó?

Ví dụ: Bức tranh thiên nhiên gần gũi, bình dị chốn làng quê với những sự vật quen thuộc của đồng nội và đặc trưng của mùa thu. Đó là những giọt thu trong trẻo nhẹ nhàng rắc qua cánh đồng. Là những cánh chim bay trong những buổi chiều thu êm ả. Là những thảm cỏ mướt xanh điểm xuyết những bông hoa dại. Những cánh cò trắng chầm chậm trôi, những đàn trâu thung thăng đi về trên cánh đồng xanh. Đó còn là những sóng lúa nhấp nhô, đều tăm tắp êm ả. Là hương thơm ngát mùi lúa chín vào mỗi buổi chiều. Và đó là những làn khói bếp toả ra như gọi trăng thu xuống gần. Tất cả những hình ảnh đó thật thân thương đối với em, gợi em nhớ đến làng quê yên bình mỗi chiều về.

* Phát biểu cảm nghĩ về nghệ thuật bài thơ:

–  Thể thơ 5 chữ gần gũi, mộc mạc.

– Các biện pháp tu từ được sử dụng linh hoạt như so sánh mùa thu như tay mềm, nhân hoá qua hình ảnh mùa thu chạm lên từng thảm lúa, Bếp nhà ai toả khói/ Gọi trăng thu xuống gần.

– Sử dụng nhiều từ láy, từ ngữ giàu tính gợi hình, gợi cảm như trong veo, mướt xanh, nhanh nhanh, chậm rãi, nhấp nhô.

c3. Kết bài: 

– Khẳng định giá trị của bài thơ và cảm xúc của bản thân về bài thơ.


có s đâu kém thì sửa thế cx nói