Hoàngthị Mai Hoa
Giới thiệu về bản thân
Bài làm
Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập trường, lớp em tổ chức chuyến đi về nguồn đầy ý nghĩa. Điểm đến là Khu di tích Bạch Đằng Giang ở Quảng Yên, Quảng Ninh. Đây là chuyến đi em mong chờ nhất và còn lưu giữ nhiều kỷ niệm sâu sắc cho đến bây giờ.
Một tuần trước, cô giáo chủ nhiệm đã thông báo mục đích chuyến đi là giúp chúng em hiểu rõ truyền thống chống ngoại xâm của cha ông ngay trên quê hương Quảng Ninh, từ đó hun đúc lòng yêu nước và trách nhiệm của thế hệ trẻ. Nghe cô nói, cả lớp ai cũng háo hức. Tối hôm trước, em đã chuẩn bị sổ, bút và mũ để ghi chép.
Sáng hôm đó, trời thu trong xanh và mát mẻ. Đúng sáu giờ, xe xuất phát từ Móng Cái. Trên xe, cô kể về ba trận thủy chiến lẫy lừng trên sông Bạch Đằng: năm 938 của Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, năm 981 của Lê Hoàn và đặc biệt là năm 1288 của Trần Hưng Đạo. Những câu chuyện hấp dẫn khiến quãng đường hơn trăm cây số như ngắn lại.
Khoảng chín giờ, chúng em tới nơi. Ấn tượng đầu tiên là không gian rộng lớn, trang nghiêm bên bờ sông. Nổi bật nhất là bãi cọc gỗ được phục dựng nguyên mẫu. Hàng trăm cây gỗ lim to lớn, đầu vót nhọn hoắt, cắm xiên xuống lòng sông theo thế trận hiểm hóc. Bác hướng dẫn viên giải thích đây chính là vũ khí bí mật của cha ông ta. Lợi dụng quy luật thủy triều lên xuống, quân ta nhử giặc vào khi nước lớn rồi phản công khi nước rút, khiến thuyền giặc bị cọc đâm thủng và chìm nghỉm. Đứng trước bãi cọc, em như nghe thấy tiếng trống trận thúc vang và tiếng hò reo của nghĩa quân.
Sau đó, chúng em thành kính lên khu đền thờ ba vị anh hùng dân tộc là vua Ngô Quyền, vua Lê Đại Hành và Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Trong đền, không khí trầm mặc và linh thiêng, mùi hương trầm thoang thoảng. Tượng đồng uy nghi, ánh mắt các ngài nhìn ra phía sông như vẫn đang canh giữ non sông. Em đã lặng lẽ thắp một nén hương, trong lòng dâng lên niềm biết ơn và thầm hứa sẽ cố gắng học thật tốt.
Điều xúc động nhất là khi đứng trước Quảng Trường Chiến Thắng với bức phù điêu đá khổng lồ tái hiện ba trận đại thắng. Gươm giáo lấp lánh, thuyền chiến rẽ sóng, cờ Đại Việt tung bay phấp phới. Cô giáo cho cả lớp ngồi lại dưới chân tượng đài và dặn rằng sông Bạch Đằng không chỉ là dòng sông tự nhiên, mà là dòng sông của trí tuệ và lòng dũng cảm Việt Nam.
Buổi chiều, xe đưa chúng em về. Dòng Bạch Đằng vẫn hiền hòa trôi, đỏ nặng phù sa. Thật khó tin nơi yên bình này đã ba lần nhấn chìm những đạo quân xâm lược hùng mạnh nhất.
Chuyến đi kết thúc nhưng dư âm còn mãi trong em. Em cảm thấy niềm tự hào dân tộc dâng trào và hiểu rằng lịch sử không hề khô khan trong sách vở mà đang hiện hữu sống động ngay trên quê hương mình. Em tự rút ra bài học phải luôn ghi nhớ công ơn tổ tiên, trân trọng hòa bình hôm nay và nỗ lực học tập để góp phần xây dựng đất nước giàu đẹp hơn. Đó sẽ mãi là hành trang quý giá theo em suốt cuộc đời.
Bài 1:
Bài thơ đc viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật
Bài 2:4 dòng đầu có 3 hình ảnh:
Hòe xanh,thạch lựu đỏ,sen hồng
=>bức tranh hè rực rỡ, căng đầy sức sống
Bài 3:
Đảo ngữ "lao xao,dắng dỏi"lên đầu câu
Tác dụng:nhấn mạnh âm thanh sôi động,có hồn.
Bài 4:
2 dong cuối bộc lộ tiếng lòng yêu nước thương dân,mong cho dân giàu đủ,đất nước thái bình.
Bài 5:
Chủ đề : yêu thiên nhiên ,yêu đời và yêu nước thương dân.
Căn cứ :6 câu đầu tả cảnh hè tươi đẹp, 2 câu cuối nói chí hướng vì dân.
Câu 6
Nguyễn Trãi dù ở ẩn vẫn tìm thấy niềm vui từ thiên nhiên giản dị quanh mình. Điều đó dạy em hãy biết trân trọng những điều bình dị để giữ tinh thần lạc quan. Khi ta yêu thiên nhiên,yêu cuộc sống,ta sẽ thấy cuộc sống ý nghĩa hơn và có đủ sức mạnh vượt qua khó khăn.
BẢN TƯỜNG TRÌNH VỀ VIỆC CHỨNG KIẾN TAI NẠN GIAO THÔNG
Kính gửi: Công an xã/phường/thị trấn... (nơi xảy ra tai nạn hoặc nơi nộp đơn)
1. Người tường trình:
Họ và tên: [Họ và tên của bạn]
Ngày sinh: [Ngày/tháng/năm sinh]
Số CCCD/CMND: [Số thẻ của bạn] - Cấp ngày: ... tại: ...
Địa chỉ thường trú: [Địa chỉ của bạn]
Số điện thoại liên lạc: [Số điện thoại của bạn]
2. Nội dung sự việc:
Vào hồi [Giờ/Phút] ngày [Ngày/Tháng/Năm], khi tôi đang lưu thông trên đoạn đường [Tên đường/Địa điểm cụ thể], tôi có chứng kiến một vụ tai nạn giao thông cụ thể như sau:
Về phương tiện: Một xe máy mang biển kiểm soát [BKS xe 1] va chạm với xe ô tô mang biển kiểm soát [BKS xe 2].
Diễn biến: (Ví dụ: Xe máy đang đi đúng làn đường thì xe ô tô bất ngờ rẽ trái không xi nhan, dẫn đến va chạm mạnh khiến người đi xe máy ngã xuống đường).
Tình trạng sau va chạm: Người đi xe máy bị thương nhẹ/nặng ở vùng chân, hai phương tiện bị hư hỏng phần đầu/đuôi. Sau khi tai nạn xảy ra, tôi và một số người dân xung quanh đã hỗ trợ gọi cấp cứu và bảo vệ hiện trường.
3. Cam đoan:
Tôi cam đoan những nội dung tường trình trên đây là hoàn toàn đúng sự thật. Nếu có gì sai trái, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.
Tôi viết bản tường trình này để cơ quan công an có thêm căn cứ giải quyết vụ việc.
..., ngày... tháng... năm...
Người tường trình
(Ký và ghi rõ họ tên)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN TƯỜNG TRÌNH VỤ VIỆC
(Về việc: Hai bạn [Tên bạn A] và [Tên bạn B] đánh nhau trong lớp)
Kính gửi: Thầy/Cô giáo chủ nhiệm lớp [Tên lớp của em].
Tên em là: [Họ và tên của em]
Học sinh lớp: [Tên lớp]
Em xin tường trình lại vụ việc xảy ra vào ngày .../.../... như sau:
Thời gian, địa điểm: Vào khoảng [Giờ] ngày [Ngày tháng], tại lớp [Tên lớp].
Diễn biến sự việc: Lúc đó đang là giờ [Ra chơi/Chuyển tiết...], em thấy bạn [Tên bạn A] và bạn [Tên bạn B] có xảy ra tranh cãi về việc [Lý do, ví dụ: mượn đồ dùng/va chạm khi đi lại]. Sau đó, do thiếu kiềm chế, hai bạn đã bắt đầu xô xát và đánh nhau.
Kết quả: Sự việc khiến [Mô tả tình trạng: ví dụ các bạn bị trầy xước/bàn ghế bị xê dịch]. Ngay sau đó, em và các bạn xung quanh đã can ngăn và báo cáo sự việc.
Nguyên nhân xảy ra sự việc: (Theo em quan sát) là do hai bạn chưa giữ được bình tĩnh khi giải quyết mâu thuẫn cá nhân.
Em xin cam đoan những điều nêu trên là đúng sự thật. Nếu có gì sai trái, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
......, ngày ... tháng ... năm 20...
Người làm tường trình
(Ký và ghi rõ họ tên)
5-6 dòng:Văn bản giới thiệu các phương tiện truyền thống của dân tộc thiểu số Việt Nam xưa như dùng sức người, sức thú ở miền núi và các loại thuyền, bè ở vùng sông nước, qua đó thể hiện sự sáng tạo và khả năng thích nghi độc đáo với môi trường tự nhiên.
10-12 dòng:Văn bản giới thiệu về các loại hình di chuyển truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam xưa. Ở vùng núi, phương thức chủ yếu là đi bộ, dùng sức người hoặc các loài động vật như ngựa, voi để thồ hàng qua địa hình hiểm trở. Ngược lại, cư dân vùng sông nước lại sử dụng linh hoạt bè, mảng, thuyền độc mộc và thuyền đuôi én. Những phương tiện này thể hiện sự sáng tạo và khả năng thích nghi tuyệt vời với môi trường tự nhiên của mỗi dân tộc. Qua đó, người đọc thấy được nét đẹp văn hóa đặc trưng trong đời sống lao động của cha ông ta.
5-6 dòng:Văn bản đề cập đến những giá trị và kinh tế và văn hóa, sự đa dạng của ghe xuồng với người dân Nam Bộ, ghe xuồng không còn chỉ là một phương tiện di chuyển, vận tải mà nó trở thành một nét văn hóa nơi đây.
10-12 dòng :Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa đã có nhiều sự đa dạng nhằm phù hợp với địa hình, khí hậu của từng khu vực, vùng miền. Như các dân tộc ở miền núi phía Bắc, phương tiện của họ chủ yếu là các loại thuyền do sinh sống gần sông. Ngược lại dân tộc ở vùng Tây Nguyên chủ yếu dùng sức voi, sức ngựa để vận chuyển đồ đạc, hàng hóa.
Trong trái tim mỗi người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một vị lãnh tụ vĩ đại mà còn là biểu tượng cao đẹp nhất của tinh thần yêu nước và đức hy sinh. Mỗi khi nhắc về Người, lòng tôi lại trào dâng một niềm xúc động nghẹn ngào, đặc biệt là khi nghĩ về giây phút Người rời xa quê hương để ra đi tìm đường cứu nước. Vào những năm đầu thế kỷ XX, khi đất nước ta còn chìm trong đêm tối của kiếp nô lệ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã mang trong mình một nỗi đau đau đáu về vận mệnh dân tộc. Hình ảnh người thanh niên trẻ tuổi ấy đứng trên bến cảng Nhà Rồng vào ngày 5 tháng 6 năm 1911 luôn khiến tôi cảm thấy vô cùng ngưỡng mộ và tự hào. Chỉ với hai bàn tay trắng cùng một trái tim nồng nàn yêu nước, Bác đã dấn thân vào hành trình vạn dặm trên con tàu Đô đốc Latouche-Tréville. Tôi tự hỏi, trong khoảnh khắc nhìn bóng dáng quê hương dần xa khuất, lòng Người đã trĩu nặng biết bao nỗi niềm? Đó là nỗi nhớ nhà, nhớ cha mẹ, là sự lo âu cho đồng bào đang lầm than. Nhưng trên hết, ý chí cứu nước đã chiến thắng tất cả. Bác đã chọn con đường gian khổ nhất, đi sang tận phương Tây xa xôi để tìm hiểu sự thật đằng sau những từ "Tự do - Bình đẳng - Bác ái", với hy vọng mang về ánh sáng cho dân tộc mình. Sự kiện Bác ra đi không chỉ là một hành động dũng cảm mà còn thể hiện một tầm nhìn thiên tài. Suốt 30 năm bôn ba hải ngoại, trải qua biết bao nghề nghiệp cực nhọc, từ phụ bếp đến quét tuyết, Người vẫn giữ vững một niềm tin sắt đá. Sự hy sinh thầm lặng ấy đã đổi lấy độc lập, tự do cho chúng ta ngày hôm nay. Càng tìm hiểu về cuộc đời của Bác, tôi càng thêm yêu kính và biết ơn Người. Hành trình tìm đường cứu nước của Bác chính là bài học lớn nhất về lòng yêu nước và ý chí vươn lên. Là thế hệ trẻ, tôi nguyện sẽ cố gắng học tập và rèn luyện, để xứng đáng với sự hy sinh vĩ đại của vị lãnh tụ kính yêu - Hồ Chí Minh.
Mỗi học sinh đều có một thầy cô mà mình yêu quý và kính trọng, và em cũng vậy. Trong suốt từ đầu năm lớp 6 đến bây giờ , cô Mai là người mà em yêu mến nhất. Cô là giáo viên chủ nhiệm của em từ khi em mới vào trường . Cô Mai có vẻ đẹp vô cùng dịu dàng với khuôn mặt trái xoan và mái tóc đen bóng luôn được cô buộc gọn gàng. Cô Mai có giọng nói rất hay. Giọng cô nhẹ nhàng và trong trẻo. Mỗi lần nghe cô giảng bài, em như đang được thưởng thức một bản nhạc du dương. Cô Mai là một giáo viên vô cùng tận tâm và yêu nghề. Cô luôn dành thời gian giúp đỡ các bạn học yếu, giảng giải và theo dõi sự tiến bộ của các bạn. Chúng em đều rất biết ơn cô, biết ơn đôi tay đã bị chai mòn vì bụi phấn, biết ơn những giờ thức khuya cặm cụi soạn giáo án. Cô như ngọn đèn soi sáng hành trình tiếp cận tri thức của chúng em. Cô là chìa khóa mở ra trước mắt chúng em những ngưỡng vọng của em.
Em luôn tự hào vì được là học trò của cô sau này khi xa mái trường em vẫn luôn luôn nhớ về cô và em hứa sẽ cố gắng học tập theo những gì cô đã chỉ bảo cho chúng em.
Chiến tranh đã qua đi những những hậu quả mà chiến tranh để lại thì vẫn còn mãi. Một trong những hậu quả nặng nề mà chiến tranh để lại có là sự cô đơn, bơ vơ, chờ đợi trong mòn mỏi đến vô vọng của những người phụ nữ có chồng đi chiến trận và ở lại vĩnh viễn nơi chiến trường xa xôi kia. Dì Bảy trong bài tản văn Người ngồi đợi trước hiên nhà của nhà văn Huỳnh Như Phương chính là người phụ nữ như thế. Dì Bảy và dượng Bảy lấy nhau được chừng một tháng thì dượng phải ra miền Bắc tập kết. Hạnh phúc ngắn chẳng tày gang thì đôi người đôi ngả. Dì ở nhà mong ngóng chờ đợi tin tức của chồng mình qua những dòng thư ngắn, những lời hỏi thăm, những món quà nhỏ nhờ người quen gửi hộ. Mặc dù đang ở độ tuổi xuân sắc có biết bao người hỏi tới dì, muốn mang đến cho dì một mái ấm hạnh phúc, nhưng dì nhất quyết không chấp nhận, không bao giờ lung lạc. Dì luôn chờ đợi một ngày dượng sẽ chờ về. Ngay cả khi biết rằng dượng đã không còn nữa, dì vẫn không mở lòng, dì vẫn ôm vào lòng hình bóng dượng.Gia sư trực Không chỉ có dì Bảy còn rất nhiều người phụ nữ họ phải chịu những nỗi tổn thương sâu sắc về tinh thần, cả đời họ là sự chờ đợi, ngóng chông để rồi thất vọng và cô đơn cứ bấu víu lấy mình. Họ hi sinh tuổi thanh xuân, hạnh phúc cá nhân của mình để góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Họ chính là những người anh hùng thầm lặng, không cần cầm súng, cầm gươm, giáo chiến đấu với kẻ thù. Họ âm thầm, lặng lẽ là hậu phương vững chắc, là điểm tựa tinh thần cho những chiến sĩ ngoài chiến trường xa xôi kia. Một lần nữa, xin hãy biết ơn những người mẹ, người vợ Việt Nam anh hùng. Họ đã dành cả tuổi xuân ngắn ngủi, ít ỏi của mình để đổi lấy bình yên, độc lập cho cả dân tộc Việt Nam ta.