Lê Phương Thảo

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Phương Thảo
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
a) Chứng minh \(AEDF\) là hình vuôngXét tứ giác \(AEDF\), ta có:
  • \(\widehat{A} = 90^\circ\) (\(\triangle ABC\) vuông cân tại \(A\))
  • \(\widehat{AED} = 90^\circ\) (\(DE \perp AB\))
  • \(\widehat{AFD} = 90^\circ\) (\(DF \perp AC\))
Tứ giác có 3 góc vuông nên \(AEDF\) là hình chữ nhật.Mặt khác, trong tam giác vuông cân \(ABC\) có \(M\) là trung điểm của cạnh huyền \(BC\). Theo tính chất, đường trung tuyến \(AM\) đồng thời là đường phân giác của góc vuông \(\widehat{A}\).
Vì \(D\) nằm trên tia đối của tia \(MA\), nên đường thẳng \(AD\) chính là đường thẳng chứa tia phân giác của góc \(\widehat{A}\).
Hình chữ nhật \(AEDF\) có một đường chéo \(AD\) đồng thời là đường phân giác của góc \(\widehat{A}\) nên \(AEDF\) là hình vuông

.


b) Chứng minh \(EF // BC\)Vì \(AEDF\) là hình vuông (chứng minh câu a) nên hai cạnh kề bằng nhau: \(AE = AF\).
Xét tam giác \(AEF\) có \(AE = AF\) nên \(\triangle AEF\) là tam giác cân tại \(A\). Vì \(\triangle AEF\) vuông tại \(A\) nên nó là tam giác vuông cân.
\(\Rightarrow \widehat{AEF}=\frac{180^{\circ }-\widehat{A}}{2}=\frac{180^{\circ }-90^{\circ }}{2}=45^{\circ }\)
Mặt khác, \(\triangle ABC\) vuông cân tại \(A\) theo giả thiết, nên ta cũng có số đo góc ở đáy:
\(\widehat{ABC}=45^{\circ }\)
Từ hai điều trên suy ra \(\widehat{AEF} = \widehat{ABC} = 45^\circ\).
Mà hai góc này nằm ở vị trí đồng vị, do đó \(EF // BC\)
a) Chứng minh \(ADME\) là hình chữ nhậtXét tứ giác \(ADME\), ta có:
  • \(\widehat{A} = 90^\circ\) (\(\triangle ABC\) vuông tại \(A\))
  • \(\widehat{ADM} = 90^\circ\) (\(MD \perp AB\))
  • \(\widehat{AEM} = 90^\circ\) (\(ME \perp AC\))
Tứ giác có 3 góc vuông là hình chữ nhật. Do đó, \(ADME\) là hình chữ nhật

.


b) Tứ giác \(AMBI\) là hình gì?Xét \(\triangle ABC\) vuông tại \(A\) có \(AM\) là đường trung tuyến ứng với cạnh huyền \(BC\):
\(\Rightarrow AM=\frac{1}{2}BC=BM=MC\)
Vì \(ADME\) là hình chữ nhật (chứng minh câu a) nên \(MD // AE \Rightarrow MD // AC\).
Mà \(AC \perp AB\), do đó \(MD \perp AB\) tại \(D\) (giả thiết đã cho).
Trong \(\triangle ABC\), ta có \(M\) là trung điểm của \(BC\) và \(MD // AC\), nên \(D\) phải là trung điểm của \(AB\) (đường thẳng đi qua trung điểm một cạnh của tam giác và song song với cạnh thứ hai thì đi qua trung điểm cạnh thứ ba).Xét tứ giác \(AMBI\) có:
  • Hai đường chéo \(AB\) và \(IM\) cắt nhau tại \(D\).
  • \(D\) là trung điểm của \(AB\) (chứng minh trên).
  • \(D\) là trung điểm của \(IM\) (theo giả thiết).
Do đó, \(AMBI\) có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm mỗi đường nên là hình bình hành.
Mặt khác, ta đã có \(AM = BM\) (chứng minh trên). Hình bình hành có hai cạnh kề bằng nhau là hình thoi.
Vậy tứ giác \(AMBI\) là hình thoi.
c) Tìm điều kiện của \(\triangle ABC\) để \(AMBI\) là hình vuôngTừ câu b, \(AMBI\) đã là một hình thoi. Để hình thoi \(AMBI\) trở thành hình vuông, ta cần thêm điều kiện một góc vuông, ví dụ \(\widehat{AMB} = 90^\circ\) (tức là \(AM \perp BC\)).Trong \(\triangle ABC\), \(AM\) vừa là đường trung tuyến (giả thiết) vừa là đường cao (\(AM \perp BC\)), do đó \(\triangle ABC\) phải cân tại \(A\).Kết hợp với điều kiện ban đầu \(\triangle ABC\) vuông tại \(A\), suy ra \(\triangle ABC\) phải là tam giác vuông cân tại \(A\).
d) Chứng minh \(PQ \perp AM\)Gọi \(K\) là giao điểm của \(AM\) và \(PQ\).Bước 1: Chứng minh \(\widehat{C} = \widehat{MAC}\)
Vì \(AM = MC\) (tính chất trung tuyến tam giác vuông), nên \(\triangle MAC\) cân tại \(M\).
\(\Rightarrow \widehat{C}=\widehat{MAC}\quad (1)\)
Bước 2: Xét tứ giác \(APHQ\)
Ta có \(\widehat{A} = 90^\circ\), \(HP \perp AB \Rightarrow \widehat{APH} = 90^\circ\), và \(HQ \perp AC \Rightarrow \widehat{AQH} = 90^\circ\).
Do đó, \(APHQ\) là hình chữ nhật.
Gọi \(O\) là giao điểm hai đường chéo \(AH\) và \(PQ\) của hình chữ nhật \(APHQ\). Ta có \(OA = OP = OH = OQ\).
\(\Rightarrow \triangle OAQ\) cân tại \(O\) \(\Rightarrow \widehat{HAQ} = \widehat{AQO}\) (hay \(\widehat{HAC} = \widehat{AQP}\)).
Bước 3: Mối quan hệ góc trong tam giác vuông \(AHC\)
Vì \(\triangle AHC\) vuông tại \(H\) nên:
\(\widehat{HAC}+\widehat{C}=90^{\circ }\)
Thay \(\widehat{HAC} = \widehat{AQP}\) và \(\widehat{C} = \widehat{MAC}\) vào đẳng thức trên, ta được:
\(\widehat{AQP}+\widehat{MAC}=90^{\circ }\)
Bước 4: Kết luận
Xét \(\triangle AKQ\) (với \(K\) là giao điểm của \(AM\) và \(PQ\)), tổng các góc trong tam giác bằng \(180^{\circ }\):
\(\widehat{AKQ}=180^{\circ }-(\widehat{AQP}+\widehat{MAC})=180^{\circ }-90^{\circ }=90^{\circ }\)
Vì \(\widehat{AKQ} = 90^\circ\) nên \(PQ \perp AM\) tại \(K\)
a) Chứng minh \(ABCD\) là hình bình hànhXét tứ giác \(ABCD\), ta có:
  • Hai đường chéo \(AC\) và \(BD\) cắt nhau tại điểm \(N\).
  • \(N\) là trung điểm của \(AC\) (theo giả thiết).
  • \(N\) là trung điểm của \(BD\) (do điểm \(D\) nằm trên tia \(B\), \(N\) sao cho \(BN = ND\)).
Tứ giác có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường là hình bình hành.
Vậy \(ABCD\) là hình bình hành.

b) Chứng minh \(P, N, Q\) thẳng hàngVì \(ABCD\) là hình bình hành (chứng minh ở câu a), nên ta có tính chất:
  • Các cạnh đối song song với nhau: \(AD // BC\).
Xét hai đường thẳng vuông góc \(AP\) và \(CQ\):
  • Ta có \(AP \perp BC\) (theo giả thiết). Do \(AD // BC\), suy ra \(AP \perp AD\).
  • Ta lại có \(CQ \perp AD\) (theo giả thiết).
Từ hai điều trên (\(AP \perp AD\) và \(CQ \perp AD\)), suy ra \(AP // CQ\) (hai đường thẳng cùng vuông góc với một đường thẳng thứ ba thì song song với nhau).Xét tứ giác \(APCQ\) có:
  • \(AP // CQ\) (chứng minh trên).
  • Do đó, \(APCQ\) là một hình thang.
  • Hình thang \(APCQ\) có góc \(\widehat{AQC} = 90^\circ\) (do \(CQ \perp AD\)), nên \(APCQ\) là hình thang vuông.
Mặt khác, trong hình thang vuông \(APCQ\):
  • Ta biết \(N\) là trung điểm của đường chéo \(AC\).
  • Gọi \(N^{\prime }\) là trung điểm của đường chéo \(PQ\). Theo tính chất hình thang vuông, trung điểm của hai đường chéo cùng nằm trên trục đối xứng / đường trung bình hoặc ta có thể xét hai tam giác vuông \(\triangle APC\) và \(\triangle AQC\) chung cạnh huyền \(AC\).
Cách giải thích ngắn gọn hơn bằng tam giác vuông:
  • Xét \(\triangle AQC\) vuông tại \(Q\), có \(QN\) là đường trung tuyến ứng với cạnh huyền \(AC\) \(\Rightarrow QN = \frac{1}{2}AC = AN = NC\).
  • Xét \(\triangle APC\) vuông tại \(P\), có \(PN\) là đường trung tuyến ứng với cạnh huyền \(AC\) \(\Rightarrow PN = \frac{1}{2}AC = AN = NC\).
Do \(AD // BC\) và \(AP // CQ\), tứ giác \(APCQ\) thực chất có \(AP // CQ\) và \(\widehat{QAP} = \widehat{AQC} = 90^\circ\), nên \(APCQ\) là hình chữ nhật.
Vì \(APCQ\) là hình chữ nhật và \(N\) là trung điểm của đường chéo \(AC\), nên \(N\) cũng phải là trung điểm của đường chéo \(PQ\).
Do \(N\) là trung điểm của đoạn thẳng \(PQ\), suy ra ba điểm \(P, N, Q\) thẳng hàng
a) Chứng minh \(MCDN\) là hình thoiVì \(ABCD\) là hình bình hành nên ta có:
  • \(AD // BC \Rightarrow DN // MC\)
  • \(AD = BC\)
Do \(M\) và \(N\) lần lượt là trung điểm của \(BC\) và \(AD\), ta có:
  • \(DN = \frac{1}{2} AD\)
  • \(MC = \frac{1}{2} BC\)
Mà \(AD = BC\) nên \(DN = MC\).Xét tứ giác \(MCDN\) có:
  • \(DN // MC\) (do \(AD // BC\))
  • \(DN = MC\) (chứng minh trên)
Suy ra \(MCDN\) là hình bình hành.Mặt khác, theo giả thiết ta có \(AD = 2AB \Rightarrow AB = \frac{1}{2} AD = DN\). Do \(ABCD\) là hình bình hành nên \(AB = CD\), suy ra \(CD = DN\).Hình bình hành \(MCDN\) có hai cạnh kề bằng nhau (\(CD = DN\)) nên \(MCDN\) là hình thoi (đpcm).
b) Chứng minh \(ABMD\) là hình thang cân và \(AM = BD\)n:
  • Xét tứ giác \(ABMD\), ta có \(AD // BC\) (tính chất hình bình hành) \(\Rightarrow AD // BM\). Do đó, \(ABMD\) là hình thang.
  • Theo giả thiết: \(BM = \frac{1}{2} BC = \frac{1}{2} AD = AN\).
  • Xét tứ giác \(ABMN\) có: \(AN // BM\) và \(AN = BM\), nên \(ABMN\) là hình bình hành. Suy ra \(AB = MN\) và \(MN // AB\).
  • Từ câu a, \(MCDN\) là hình thoi nên \(MN = MD = CD\).
  • Từ hai điều trên, ta suy ra: \(AB = MD\).
Hình thang \(ABMD\) có hai đường chéo bằng nhau (\(AB = MD\)) nên \(ABMD\) là hình thang cân .
  • Vì \(ABMD\) là hình thang cân với hai cạnh đáy là \(AD\) và \(BM\), nên theo tính chất của hình thang cân, hai đường chéo của nó phải bằng nhau.
  • Hai đường chéo của hình thang cân \(ABMD\) chính là \(AM\) và \(BD\).
Do đó, ta có ngay \(AM = BD\) .
Vì \(ABCD\) là hình vuông và \(O\) là giao điểm của hai đường chéo nên ta có :
  • Hai đường chéo bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường: \(OA = OB = OC = OD\).
  • Hai đường chéo vuông góc với nhau: \(AC \perp BD \Rightarrow \widehat{AOB} = 90^\circ\).
  • Các đường chéo đồng thời là đường phân giác của các góc ở đỉnh: \(\widehat{PAO} = \widehat{RBO} = 45^\circ\).
Ta có:
\(\widehat{AOP}+\widehat{POB}=\widehat{AOB}=90^{\circ }\)
Mặt khác, do hai đường thẳng \(m\) và \(n\) vuông góc với nhau tại \(O\) nên:
\(\widehat{BOR}+\widehat{POB}=\widehat{POR}=90^{\circ }\)
Từ hai điều trên suy ra: \(\widehat{AOP} = \widehat{BOR}\) (cùng phụ với góc \(\widehat{POB}\)).Xét \(\triangle AOP\) và \(\triangle BOR\) có:
  • \(\widehat{PAO} = \widehat{RBO} = 45^\circ\)
  • \(OA = OB\) (chứng minh trên)
  • \(\widehat{AOP} = \widehat{BOR}\) (chứng minh trên)
Suy ra \(\triangle AOP = \triangle BOR\) (g-c-g).
b) Chứng minh \(OP = OR = OS = OQ\)Từ kết quả \(\triangle AOP = \triangle BOR\) ở câu a, ta suy ra hai cạnh tương ứng bằng nhau:
\(OP=OR\quad (1)\)
Chứng minh hoàn toàn tương tự bằng cách xét các cặp tam giác bằng nhau tiếp theo:
  • Chứng minh \(\triangle BOR = \triangle COQ\) (g-c-g) \(\Rightarrow OR = OQ \quad (2)\)
  • Chứng minh \(\triangle COQ = \triangle DOS\) (g-c-g) \(\Rightarrow OQ = OS \quad (3)\)
Từ \((1)\), \((2)\) và \((3)\), ta có chuỗi đẳng thức:
\(OP = OR = OQ = OS\) (đpcm).

c) Chứng minh \(PRQS\) là hình vuôngXét tứ giác \(PRQS\), ta dựa vào các kết quả đã chứng minh ở câu b:
  • Hai đường chéo \(PQ\) và \(RS\) cắt nhau tại \(O\).
  • Vì \(OP = OQ\) nên \(O\) là trung điểm của \(PQ\).
  • Vì \(OR = OS\) nên \(O\) là trung điểm của \(RS\).
Do đó, tứ giác \(PRQS\) có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường nên là hình bình hành.Mặt khác, hình bình hành \(PRQS\) này có thêm các tính chất đặc biệt:
  • Hai đường chéo vuông góc với nhau: \(PQ \perp RS\) tại \(O\) (do đường thẳng \(m \perp n\)) \(\Rightarrow \) \(PRQS\) là hình thoi.
  • Hai đường chéo bằng nhau: \(PQ = OP + OQ = 2OP\) và \(RS = OR + OS = 2OR\). Mà \(OP = OR\) nên \(PQ = RS\) \(\Rightarrow \) Hình thoi \(PRQS\) có hai đường chéo bằng nhau là hình vuông.
Vậy tứ giác \(PRQS\) là hình vuông (đpcm).

câu1:

Hai vợ chồng người thầy bói trong câu chuyện dân gian "hai vợ chồng người thầy bói " (hoặc các ngữ cảnh tương tự) là hình ảnh châm biếm sâu sắc về sự thiếu hiểu biết nhưng lại bảo thủ và thích thể hiện. Dù chỉ tiếp cận sự vật một cách chủ quan, phiến diện – "người vợ nhìn thấy bao nhiêu là cờ phướn", người vợ lại vô cùng tự tin, cho rằng nhận thức của mình là chân lý. Thái độ này không chỉ thể hiện sự nông cạn, thiếu tư duy tổng thể mà còn phản ánh sự kiêu ngạo, thiếu lắng nghe, dẫn đến những sai lầm thảm hại. Tiếng cười trong truyện hướng vào cái sai về nhận thức, sự cố chấp, bảo thủ không chịu học hỏi của họ. Qua đó, câu chuyện nhắc nhở chúng ta cần có cái nhìn toàn diện, khách quan, tránh phiến diện để không rơi vào tình cảnh trớ trêu như cặp vợ chồng thầy bói nọ.

câu 2:

Trong thời đại công nghệ số, mạng xã hội (MXH) trở thành một phần không thể thiếu. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn tán thành quan điểm: "Mạng xã hội khiến con người cô đơn hơn." Dù kết nối hàng ngàn người, MXH lại đang dần làm suy yếu sự gắn kết thực sự và đẩy con người vào sự cô độc trong thế giới thực.  Trước hết, MXH tạo ra ảo giác về sự kết nối. Chúng ta dễ dàng "like", "comment" hay kết bạn với hàng trăm người, nhưng những tương tác này thường hời hợt, thiếu cảm xúc chân thật. Thay vì những cuộc trò chuyện trực tiếp, nhìn vào mắt nhau, con người lại cúi đầu nhìn vào màn hình điện thoại, tạo nên nghịch lý: "đông người nhưng vẫn cô đơn". Thứ hai, MXH dẫn đến thói quen so sánh bản thân với cuộc sống hào nhoáng "được chỉnh sửa" của người khác. Khi thấy bạn bè đi du lịch, thành công hay hạnh phúc, ta dễ cảm thấy thua kém, tự ti và cô độc hơn trong chính hoàn cảnh của mình. Sự ganh tị và áp lực này khiến tâm hồn trở nên trống trải. Cuối cùng, việc lạm dụng MXH khiến chúng ta quên đi cách xây dựng các mối quan hệ thực tế. Khi quá chú trọng vào thế giới ảo, thời gian dành cho gia đình, bạn bè thật sự bị thu hẹp, khiến con người xa cách nhau hơn. Tóm lại, mạng xã hội chỉ là công cụ. Hãy tỉnh táo sử dụng nó để kết nối, đừng để nó biến chúng ta thành những "hòn đảo cô đơn" giữa đại dương kết nối ảo.

 

câu 1:

Một hôm đi đường, gặp một đám ma

câu 2:

điểm chung là đều khẳng định mình nói đúng mà không nghe xem người kia nói gì

câu 3:

sự kiện chính trong chuyện là : hai vợ chồng đi qua một đám ma sau thì người vợ nói một đương còn người chồng nói một nẻo.

câu 4:

đề tài là truyện ngụ ngôn.căn cứ là truyện ngụ ngôn thường có cốt truyện ngắn.

câu 5:

em hoàn toàn đồng ý với ý kiến: "Muốn hiểu đúng sự việc, cần biết lắng nghe và tôn trọng góc nhìn của người khác". Bởi lẽ, mỗi người đều có trải nghiệm và góc nhìn riêng, việc lắng nghe giúp ta có cái nhìn toàn diện (như câu chuyện ngụ ngôn, nếu chỉ nhìn từ một phía sẽ thấy cờ hay trống, nhưng nghe hai bên sẽ thấy cả hai). Tôn trọng sự khác biệt giúp tránh cái nhìn phiến diện, chủ quan. Ví dụ, trong một cuộc thảo luận nhóm, thay vì bác bỏ ý kiến trái chiều, việc lắng nghe sẽ giúp ta phát hiện ra những lỗ hổng trong tư duy của mình và hoàn thiện kế hoạch tốt hơn. Nhờ đó, mối quan hệ được cải thiện và quyết định đưa ra sẽ thấu đáo hơn.