Nguyễn Văn Thịnh

Giới thiệu về bản thân

thịnh lớp 6A7 THCS_MỸTHÁI2
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

bài làm


Trong cuộc đời của mỗi con người, hành trình trưởng thành không được đo bằng số năm tháng ta tồn tại trên đời, mà được đo bằng những trải nghiệm đã đi qua, những mảnh đất ta từng đặt chân đến và những bài học khắc cốt ghi tâm mà ta tự rút ra cho bản thân. Có những trải nghiệm chỉ thoáng qua như một cơn gió mùa hạ, nhưng cũng có những trải nghiệm sâu sắc đến mức nó làm thay đổi hoàn toàn thế giới quan, nhân sinh quan của một con người, tựa như một dòng nước mát lành thanh lọc đi những ích kỷ, nhỏ nhen trong tâm hồn. Đối với tôi, bước ngoặt lớn lao ấy chính là chuyến đi thiện nguyện đến một bản làng xa xôi, heo hút thuộc vùng núi cao Hà Giang vào mùa đông năm ngoái. Đó không chỉ là một chuyến đi vượt qua những khoảng cách địa lý đơn thuần, mà là hành trình của lòng trắc ẩn, một trải nghiệm thiêng liêng đã dạy cho tôi bài học vô giá về sự thấu hiểu, lòng biết ơn và giá trị của sự sẻ chia trong cuộc sống.Trước khi chuyến đi này diễn ra, tôi phải thành thật thừa nhận rằng mình là một đứa trẻ sống trong "nhung lụa" và sự bảo bọc quá mức của gia đình. Sinh ra và lớn lên ở thành phố, trong một gia đình đầy đủ điều kiện, tôi luôn coi mọi thứ xung quanh mình là điều hiển nhiên. Tôi có phòng riêng với điều hòa mát rượi vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông; tôi có những bữa cơm ngon canh ngọt được mẹ chuẩn bị chu đáo; tôi được mặc những bộ quần áo thời trang đắt tiền và học tập trong một ngôi trường khang trang với đầy đủ trang thiết bị hiện đại. Ấy thế nhưng, tôi lại chưa bao giờ cảm thấy thỏa mãn. Tôi thường xuyên cằn nhằn, cau có với bố mẹ chỉ vì những lý do vô cùng nực cười: món ăn hôm nay hơi nhạt, chiếc điện thoại đang dùng đã lỗi mốt so với bạn bè, hay việc phải thức dậy vào lúc sáu giờ sáng để đến trường đối với tôi là một cực hình chịu đựng. Tôi sống ích kỷ trong thế giới nhỏ bé của riêng mình, quay cuồng với những đòi hỏi vật chất tầm thường mà không hề biết rằng, ở ngoài kia, có biết bao cuộc đời đang phải thắt lưng buộc bụng, đấu tranh từng ngày chỉ để đổi lấy những nhu cầu sinh tồn cơ bản nhất.Cơ duyên dẫn tôi đến với trải nghiệm thay đổi cuộc đời này là vào tháng mười hai năm ngoái, khi câu lạc bộ tình nguyện của trường phát động chiến dịch "Áo ấm mùa đông" hướng về trẻ em vùng cao biên giới. Ban đầu, tôi đăng ký tham gia không phải vì một mục đích cao cả hay vì lòng thương người dạt dào. Thú thật, lúc đó tôi chỉ nghĩ đơn giản đây là một cơ hội tốt để "đổi gió", để trốn khỏi những giờ học căng thẳng, để có thể đi du lịch miễn phí và chụp những bức ảnh phong cảnh lung linh đăng lên mạng xã hội tỏ vẻ ta đây là người sống có trách nhiệm với cộng đồng. Tâm thế hời hợt và nông cạn ấy của tôi đã hoàn toàn bị đập tan tành ngay trong cái ngày đầu tiên đoàn tình nguyện đặt chân đến điểm trường Sủng Là – một xã vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang.Chuyến xe chở đoàn tình nguyện và hàng chục thùng hàng cứu trợ lăn bánh từ tòa soạn trường từ lúc tờ mờ sáng, khi thành phố vẫn còn chìm trong giấc ngủ ngái ngủ và những ánh đèn đường vàng vọt. Sau hơn mười tiếng đồng hồ di chuyển liên tục, vượt qua những con đường quốc lộ bằng phẳng rồi tiến vào những cung đường đèo uốn lượn quanh co như những con rắn khổng lồ vắt ngang lưng chừng trời, thử thách thực sự mới bắt đầu. Đường lên bản không hề dễ dàng như tôi tưởng tượng. Đó là những con đường đất đỏ gồ ghề, lồi lõm sỏi đá, một bên là vách núi đá vôi dựng đứng xám ngắt, một bên là vực sâu hun hút mờ mịt sương mù. Chiếc xe khách liên tục xóc nảy, chao đảo khiến một đứa vốn chưa bao giờ biết say xe như tôi cũng phải nôn thốc nôn tháo, mặt mày xây xẩm, mệt mỏi rã rời. Lúc đó, trong đầu tôi bắt đầu xuất hiện những ý nghĩ hối hận. Tôi tự hỏi tại sao mình lại hành xác như thế này, tại sao không ở nhà chăn ấm nệm êm mà lại lao vào nơi khỉ ho cò gáy này để chịu khổ.Thế nhưng, khi chiếc xe dừng bánh trước cổng điểm trường tiểu học Sủng Là, mọi sự mệt mỏi thể xác và những lời phàn nàn ích kỷ trong lòng tôi bỗng chốc bay biến, nhường chỗ cho một nỗi bàng hoàng và xót xa đến nghẹn thắt. Bản làng hiện ra trước mắt tôi vào một chiều đông muộn, lọt thỏm giữa những dãy núi đá tai mèo nhấp nhô, lạnh lẽo. Cái lạnh của miền biên viễn vào những ngày cuối năm như một con quái vật hung hãn, nó không giống cái lạnh hanh hao ở đồng bằng mà là cái rét buốt thấu xương thấu tủy, sương muối phủ một lớp mờ ảo lên những mái nhà trình tường đất xám xịt. Tôi dù đã trang bị tận răng với áo phao lông vũ dày cộm, khăn len quấn mấy vòng quanh cổ, găng tay, giữ nhiệt đầy đủ mà vẫn phải run lên bần bật, hơi thở ra hóa thành những làn khói trắng xóa.Vậy mà, cảnh tượng những đứa trẻ vùng cao xuất hiện tại sân trường đã giáng một đòn mạnh mẽ vào thị giác và tâm hồn tôi. Giữa cái thời tiết khắc nghiệt dưới mười độ C ấy, những đứa trẻ chỉ khoảng năm, sáu, bảy tuổi đang đứng tập trung đón đoàn. Các em không có áo phao, không có khăn len, càng không có găng tay. Trên người mỗi đứa chỉ là một chiếc áo sơ mi hoặc áo phao mỏng manh đã cũ nát, sờn rách, sứt chỉ, nhiều chỗ vá chằng vá đụp, có em thậm chí còn mặc chiếc quần ngắn cộc cỡn để lộ đôi chân gầy guộc. Đáng sợ nhất là đôi bàn chân của các em. Hầu hết các em đều đi những đôi dép tổ ong cũ kỹ đã rách toác mũi, để lộ những ngón chân tím tái, thâm tím vì lạnh. Có những đứa trẻ hoàn toàn đi chân trần trên nền đất đá lổn nhổn, đôi bàn chân bám đầy bùn đất nứt nẻ thành những đường rãnh sâu, rớm máu vì sương muối cắt vào da thịt. Đôi gò má của đứa nào đứa nấy cũng đỏ ửng lên, thô ráp, bờ môi nứt nẻ đến rướm máu.Nhìn hình ảnh ấy, tôi bất giác cúi xuống nhìn bộ quần áo hàng hiệu mình đang mặc, nhìn đôi giày thể thao ấm áp sạch sẽ của mình, và một cảm giác xấu hổ trào dâng mãnh liệt. Tôi thấy mình thật đáng trách, thật nông cạn biết bao. Khi tôi ở nhà chê bai món ăn không ngon, phàn nàn về những điều nhỏ nhặt, thì ở ngay trên mảnh đất quê hương này, có những đứa trẻ bằng tuổi em tôi đang phải chống chọi với cái lạnh thấu xương bằng da thịt trần trụi của mình mà không một lời kêu ca. Tuy thiếu thốn và khắc nghiệt là vậy, nhưng điều kỳ diệu nhất là đôi mắt của các em. Đôi mắt ấy không hề có sự oán hận hay u buồn, đó là những đôi mắt trong veo, sáng rực lên như những vì sao đêm, chứa đựng sự ngây thơ, thuần khiết và một niềm háo hức, rụt rè khi nhìn thấy những người lạ từ xuôi lên.Đoàn tình nguyện nhanh chóng bắt tay vào công việc phân phát quà tặng để kịp trước khi mặt trời lặn sau vách núi. Tôi được phân công vào tổ phát áo phao mới, ủng cao su và bánh kẹo cho các em học sinh lớp một và lớp hai. Nhiệm vụ tưởng chừng như đơn giản nhưng lại lấy đi của tôi biết bao nước mắt. Tôi nhớ nhất hình ảnh một cậu bé người Mông nhỏ thó, tên là Giàng A Sùng. Khi Sùng bước đến trước mặt tôi, cậu bé run rẩy vì lạnh nhưng đôi mắt vẫn chăm chú nhìn vào chồng áo phao màu đỏ rực rỡ xếp trên bàn. Tôi cầm một chiếc áo vừa vặn, nhẹ nhàng khoác lên bờ vai gầy gộc của em, giúp em kéo khóa áo và chỉnh lại cổ áo. Ngay khoảnh khắc lớp vải phao dày dặn, ấm áp bao bọc lấy cơ thể, tôi thấy gương mặt Sùng giãn ra. Em đưa đôi bàn tay nhỏ bé, đầy những vết chai sần và sẹo lồi do đi mót củi, nhẹ nhàng sờ lên lớp vải mới một cách vô cùng nâng niu, nâng niu như thể đó là một báu vật vô giá trên đời. Em ngước nhìn tôi, nở một nụ cười rạng rỡ, bập bẹ nói bằng thứ tiếng Kinh chưa thật sõi, giọng nói run run: "Em... em cảm ơn chị ạ. Áo mới đẹp quá, ấm quá, từ nay em không sợ cái rét nữa rồi!".Từ câu nói của Sùng, tôi gặng hỏi em về cuộc sống thường ngày. Sùng hồn nhiên kể rằng nhà em nằm cách điểm trường này tận ba quả đồi núi đá. Mỗi ngày, em phải thức dậy từ lúc bốn rưỡi sáng, khi trời còn tối đen như mực và sương mù dày đặc không nhìn rõ mặt người, một mình đi bộ men theo đường mòn vách đá để đến trường. Tôi kinh ngạc hỏi: "Trời lạnh và đường xa như thế, sao em không ở nhà? Em không sợ à?". Sùng nghiêng đầu, cười ngây thơ: "Không sợ đâu chị ạ! Bố mẹ bảo phải đi học để biết cái chữ, sau này không phải khổ như bố mẹ nữa. Ở trường thích lắm, có thầy cô yêu thương, có các bạn chơi cùng, và đi học thì... thì thỉnh thoảng còn được ăn cơm có thịt của nhà nước cho nữa".Lời chia sẻ mộc mạc, chân chất của một đứa trẻ vùng cao như một hồi chuông vang dội thức tỉnh phần người trong tôi. Nó đập tan mọi sự lười biếng, ích kỷ và lối sống đòi hỏi bấy lâu nay của tôi. Ở thành phố, chúng tôi có tất cả: có trường học khang trang, có xe đưa đón, có cha mẹ chăm lo từng li từng tí, vậy mà chúng tôi lại coi việc học là một áp lực, lại tìm mọi cách để lười biếng, trốn tránh. Còn ở nơi đây, giữa muôn vàn hiểm nguy của địa hình và sự khắc nghiệt của thời tiết, cái chữ đối với các em là một giấc mơ, là chiếc phao cứu sinh duy nhất để thoát nghèo, và các em đón nhận nó với tất cả sự trân trọng, nỗ lực phi thường. Sự kiên cường của các em khiến một kẻ to xác như tôi phải cúi đầu tự soi xét lại bản thân mình.Buổi chiều hôm đó, hoạt động ý nghĩa tiếp theo là nấu bữa cơm cải thiện cho toàn bộ học sinh và người dân trong bản. Đoàn chúng tôi đã chuẩn bị những nồi cháo thịt băm khổng lồ và những phần cơm có giò, có trứng – những món ăn vô cùng quen thuộc, thậm chí có phần chán ngán đối với trẻ em thành phố. Thế nhưng, tại sân trường Sủng Là chiều hôm ấy, nó lại trở thành một ngày hội thực sự. Các em nhỏ xếp thành những hàng dài thẳng tắp, trật tự, trên tay cầm những chiếc bát nhựa, bát sắt đã cũ kỹ. Khi nhận được phần cơm nóng hổi, khói bay nghi ngút, các em không ăn ngay mà nâng niu bằng cả hai tay, mang về góc sân ngồi ăn cùng anh chị em của mình. Nhìn cái cách các em ăn một cách ngon lành, vét sạch đến hạt cơm cuối cùng trong bát với vẻ mặt thỏa mãn, hạnh phúc, lòng tôi trào dâng một cảm xúc vô cùng khó tả. Đó là một thứ hạnh phúc nguyên sơ, ấm áp mà tôi chưa từng được nếm trải trước đây. Hóa ra, hạnh phúc đích thực không phải là khi ta nhận về thật nhiều, không phải là khi ta sở hữu những món đồ hiệu đắt giá để khoe khoang, mà hạnh phúc chính là khi ta biết cho đi, biết dùng một chút công sức nhỏ bé của mình để mang lại niềm vui, sưởi ấm cho những mảnh đời bất hạnh xung quanh.Khi màn đêm buông xuống, không gian vùng cao chìm vào một màu đen đặc quánh và tĩnh mịch, cái lạnh càng trở nên dữ dội hơn khi gió ngàn rít qua các khe núi đá tai mèo nghe như những tiếng hú dài. Đoàn tình nguyện cùng thầy cô giáo và người dân địa phương đốt một đống lửa trại lớn giữa sân trường. Ánh lửa bập bùng đỏ rực, xua tan đi cái bóng tối dày đặc và sưởi ấm không gian lạnh giá. Chúng tôi cùng nhau nắm tay thành một vòng tròn lớn, cùng nhảy múa, ca hát những bài ca tình nguyện vang vọng cả núi rừng. Ngồi bên đống lửa, nhìn những gương mặt lấp lánh niềm vui dưới ánh lửa, nghe tiếng cười giòn giã của các em nhỏ bám theo các anh chị tình nguyện viên, tôi đã có một đêm mất ngủ. Tôi ngồi lặng lẽ một góc, ngước nhìn bầu trời đêm vùng cao dày đặc những vì sao lấp lánh – một bầu trời trong vắt không bị che khuất bởi những tòa nhà cao tầng hay khói bụi thành phố. Đêm đó, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về bản thân, về gia đình và về tương lai. Tôi nhận ra mình đã sống một cuộc đời quá lãng phí và ích kỷ. Tôi tự hứa với lòng mình, khi trở về thành phố, việc đầu tiên tôi làm sẽ là chạy đến ôm lấy bố mẹ, nói lời xin lỗi chân thành vì những lần đòi hỏi vô lý, và nói lời cảm ơn vì tất cả những điều tuyệt vời mà bố mẹ đã dành cho tôi.Chuyến đi thiện nguyện bốn ngày ba đêm rồi cũng đến lúc phải kết thúc. Ngày chia tay, trời đổ một cơn mưa phùn nhẹ, cái lạnh như càng thêm tái tê. Khi chiếc xe nổ máy chuẩn bị rời bản, rất nhiều em nhỏ và người dân đã đứng dọc hai bên đường để tiễn đoàn. Cậu bé Giàng A Sùng chạy theo xe, trên người vẫn mặc chiếc áo phao đỏ mà tôi tặng, em vẫy vẫy đôi bàn tay nhỏ bé, hét lớn qua cửa kính: "Các anh các chị sang năm lại lên với chúng em nhé!". Hình ảnh chiếc áo đỏ nhỏ bé nhạt nhòa dần trong màn sương mù của vùng núi cao Hà Giang đã khắc sâu vào tâm khảm của tôi, trở thành một ký ức không bao giờ phai nhạt.Trở về với cuộc sống nhộn nhịp, hối hả của thành phố, tôi như biến thành một con người hoàn toàn khác. Tôi không còn cằn nhằn về những bữa ăn mẹ nấu, không còn đòi hỏi những món đồ xa xỉ, và mỗi buổi sáng thức dậy, tôi đón nhận một ngày mới với một tâm thế ngập tràn lòng biết ơn. Tôi chăm chỉ học tập hơn, biết giúp đỡ bố mẹ việc nhà và tích cực tham gia vào các hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn ngay tại nơi mình sinh sống. Trải nghiệm chuyến đi Hà Giang năm ấy đối với tôi không đơn thuần là một chuyến đi thực tế, mà nó là một hành trình cứu rỗi tâm hồn, một cột mốc thiêng liêng đánh dấu sự trưởng thành thực sự trong nhận thức của tôi. Nó đã dạy cho tôi hiểu rằng: "Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình". Cuộc đời này sẽ đẹp đẽ và đáng sống hơn biết bao nếu chúng ta biết mở rộng rộng lòng bàn tay để sẻ chia, biết dùng ngọn lửa của tình yêu thương để sưởi ấm cho những góc khuất lạnh giá của cuộc đời.