Ngô Văn Diện
Giới thiệu về bản thân
Câu 4. Biện pháp tu từ:
2 câu thơ dùng biện pháp *so sánh*:
> _Con tao, gan dạ anh hùng / Như rừng đước mạnh, như rừng tràm thơm!_
- _Tác dụng:_ Lấy hình ảnh rừng U Minh - rừng đước, rừng tràm - vốn quen thuộc, mạnh mẽ, thơm ngát để ca ngợi con người Nam Bộ. Làm nổi bật vẻ đẹp gan dạ, kiên cường, sức sống bất khuất, anh hùng của các con bà má và của quân dân ta. So sánh khiến lời thơ vừa hùng tráng vừa đậm chất Nam Bộ.
Câu 5. Suy ngẫm về tinh thần yêu nước:
Hình tượng bà má Hậu Giang là biểu tượng sáng ngời của tinh thần yêu nước Việt Nam: dù tuổi già sức yếu vẫn kiên trung, bất khuất, thà chết không khai, đặt Tổ quốc và các con lên trên sinh mạng mình. Qua đó thấy nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, sẵn sàng hy sinh, đùm bọc cách mạng. Đó là sức mạnh để dân tộc ta chiến thắng mọi kẻ thù, là bài học để thế hệ hôm nay trân trọng hòa bình và sống có trách nhiệm với Tổ quốc.
Tới luôn nè iu, bài này là *Bà má Hậu Giang - Tố Hữu*, tớ làm bản ngắn gọn cho iu copy nộp kịp giờ nha:
Câu 1. Thể thơ:
Văn bản được viết theo thể *thơ tự do*, có chỗ xen câu 7 chữ, 8 chữ, mang âm hưởng dân ca, lời kể tự nhiên, hùng tráng.
Câu 2. Sự việc xảy ra:
Giặc tra tấn bà má Hậu Giang già yếu để bắt má khai ra nơi bộ đội, du kích đang ẩn náu trong rừng U Minh. Má bị đánh ngã bên lò bếp đỏ nhưng nhất quyết không khai, thà chết một mình để cho các con được sống, chiến đấu.
Câu 3. Hành động độc ác của tên giặc và nhận xét:
- _Hành động:_ Đứng ngó trừng trừng khi má ngã, giậm gót giày đạp lên đầu má già, quát _“Mẹ mày, nói không?”_, lưỡi gươm lạnh toát kề cổ.
- _Nhận xét:_ Tên giặc hiện lên vô cùng tàn bạo, dã man, vô nhân tính. Hắn là hiện thân của kẻ xâm lược phi nghĩa, cậy sức mạnh đàn áp người dân lương thiện, càng làm nổi bật sự tàn khốc của chiến tranh.
Câu 4: BPTT: *Điển tích (thư phong, hồng tiện, chữ gấm)* + *từ láy (ngẩn ngơ, thẩn thẩn, thẹn thùng)*. Tác dụng: Tạo vẻ cổ kính, trang nhã; diễn tả sâu sắc nỗi mong ngóng, sầu muộn, bồn chồn của người chinh phụ.
Câu 5: Tâm trạng: Cô đơn, sầu muộn, lo âu, khắc khoải, thương nhớ chồng và oán trách chiến tranh.
Suy nghĩ: Càng trân trọng giá trị của *hòa bình* hôm nay - hòa bình cho ta sum vầy, không phải chia ly. Phải biết giữ gìn hòa bình, lên án chiến tranh phi nghĩa.
Đây đủ bài rồi nè iu, tớ làm bản siêu ngắn để iu copy kịp 8s nha!
Câu 1: Thể :song thất lục bát
Câu 2:Các dòng mong tin chồng:
> _Tới xuân này tin hãy vắng không._
> _Thấy nhạn luống tưởng thư phong,_
> _Gió tây nổi khôn đường hồng tiện_
=> Chờ thư nhưng bặt vô âm tín, chỉ thấy nhạn bay ngỡ là thư chồng.
Câu 3: Nghĩ về chồng nơi xa ngườichinh phụ đã:
- Đề chữ gấm, gieo bói tiền để cầu bình an cho chồng.
- Trâm cài xiêm thắt thẹn thùng, tóc rối lỏng vòng lưng eo - gầy mòn vì nhớ.
- Dạo hiên, ngồi rèm thưa rủ thác đôi phen - đi ra đi vào thẫn thờ.
=> Nhận xét: Hành động vô vọng, lặp đi lặp lại cho thấy tình yêu thủy chung, nỗi cô đơn, lo âu đến tột cùng, khát khao đoàn tụ và tố cáo chiến tranh gây ly tán.
Câu 4:
_Tác dụng:_
- Tạo không khí liêu trai, hoang đường, hấp dẫn cho truyện.
- Thể hiện quan niệm nhân quả báo ứng của dân gian và tư tưởng răn đe: ác giả ác báo.
- Là phương tiện để tác giả thể hiện sự trừng phạt thích đáng với kẻ ác, qua đó bộc lộ thái độ và chủ đề tác phẩm.
Câu5:
_Bài học:_ Phải sống lương thiện, tôn trọng mọi người, không ỷ quyền cậy thế làm điều bạo ngược; biết ăn năn hối cải khi mắc lỗi; tin vào luật nhân quả, làm việc thiện để tích đức cho bản thân và con cháu.
Câu1:
Truyện truyền kì
Truyền kì mạn lục
Câu2:
Ngôi kể thứ 3
Câu3:
Lý hữu chi(lý mỗ ở mộ đô)
Nói ngắn gọn: Từ Thức vào núi Hoành Sơn vì không còn thuộc về đâu cả, đó vừa là kết cục bi thảm của kẻ tham lam cả hai thế giới, vừa là sự giải thoát để được sống đúng với con người ẩn dật yêu tự do của mình.
Về tính cách : đó là sự trở về với con người thật của chàng
Lỡ làng
Xvbrdx