꧁ঔৣ☬✞𝔗𝔯ầ𝔫 𝔊𝔦𝔞 ℌ𝔦ế𝔲 ✞☬ঔৣ꧂

Giới thiệu về bản thân

lô
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
1. Dựng cờ khởi nghĩa và lật đổ chính quyền chúa Nguyễn (1771 - 1777)
  • Năm 1771: Nguyễn Huệ cùng anh (Nguyễn Nhạc) và em (Nguyễn Lữ) dựng cờ khởi nghĩa tại Tây Sơn thượng đạo (Bình Định) chống lại chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
  • Từ năm 1773 đến 1777: Nghĩa quân Tây Sơn liên tiếp mở các chiến dịch tấn công, lật đổ hoàn toàn cơ đồ thống trị của họ Nguyễn ở Đàng Trong.
2. Đánh tan quân Xiêm xâm lược (1785)
  • Thừa lúc chúa Nguyễn (Nguyễn Ánh) cầu viện quân Xiêm, năm 1785, Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy đại quân phục kích và giành thắng lợi vang dội trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút (tiêu diệt khoảng 5 vạn quân Xiêm), bảo vệ vững chắc phía Nam.
3. Diệt chúa Trịnh, thống nhất Đàng Trong - Đàng Ngoài (1786)
  • Tháng 6 năm 1786: Nguyễn Huệ làm Tổng chỉ huy tiến quân ra Bắc, tiêu diệt chính quyền chúa Trịnh ở Đàng Ngoài (chấm dứt thế phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài kéo dài hơn 200 năm).
  • Sau đó, ông giao lại chính quyền cho nhà Lê và rút quân về Nam, tạo bước ngoặt lớn đưa phong trào Tây Sơn phát triển ra toàn quốc.
4. Lên ngôi hoàng đế và đại phá quân Thanh (1788 - 1789)
  • Cuối năm 1788: Quân Thanh kéo sang xâm lược nước ta theo yêu cầu của Lê Chiêu Thống. Ngày 22/12/1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế tại Phú Xuân (Huế), lấy niên hiệu là Quang Trung rồi lập tức dẫn quân ra Bắc.
  • Tết Kỷ Dậu (1789): Vua Quang Trung chỉ huy cuộc hành quân thần tốc, mở cuộc đại phá 29 vạn quân Mãn Thanh ở trận Ngọc Hồi – Đống Đa, quét sạch quân xâm lược và bè lũ tay sai, giữ vững nền độc lập và hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước.
Nền văn minh Ấn Độ thời trung đại đạt được nhiều thành tựu rực rỡ và toàn diện trên các lĩnh vực tư tưởng - tôn giáo, chữ viết, văn học, nghệ thuật kiến trúc, cùng với khoa học - kỹ thuật. 1. Tôn giáo và tư tưởng
  • Hin-đu giáo (Ấn Độ giáo): Phát triển mạnh mẽ và trở thành tôn giáo phổ biến nhất, chi phối sâu sắc đời sống xã hội và văn hóa.
  • Phật giáo: Tiếp tục lan tỏa và có sự phân hóa (phái Đại thừa và Tiểu thừa), đồng thời truyền bá mạnh mẽ ra các nước châu Á.
  • Hồi giáo và Đạo Xích: Sự xuất hiện và du nhập của Hồi giáo (từ thời kỳ các Vương triều Hồi giáo Đê-li và Đế chế Mô-gôn) cùng với Đạo Xích (thế kỷ XV - XVI) tạo nên một nền văn hóa đa tôn giáo.
2. Chữ viết và văn học
  • Chữ viết: Phát triển hoàn thiện các loại chữ như chữ Phạn (San-xkrít), chữ Bra-mi, và chữ Hin-đi, dùng để ghi chép kinh điển và sáng tác văn học.
  • Văn học:
    • Tiếp tục kế thừa các bộ sử thi vĩ đại như Ma-ha-ba-ra-ta và Ra-ma-y-a-na.
    • Nổi bật với các tác phẩm kịch và thơ của đại văn hào Ca-li-đa-sa (tiêu biểu là vở kịch Sơ-cun-tla).
3. Kiến trúc và điêu khắc
  • Kiến trúc Phật giáo và Hin-đu giáo: Xây dựng hàng loạt các ngôi đền, chùa tháp và đền hang độc đáo như quần thể chùa hang A-gian-ta, các đền thờ lớn ở miền Nam Ấn Độ (như đền Kailasa ở Ellora, đền Brihadeeswarar ở Thanjavur).
  • Kiến trúc Hồi giáo (Ấn-Mô-gôn): Đạt đến đỉnh cao với phong cách kết hợp giữa văn hóa Ấn Độ và Hồi giáo, tiêu biểu nhất là lăng mộ Ta-giơ Ma-han (Taj Mahal) lừng danh thế giới.
4. Khoa học – kỹ thuật
  • Toán học: Sáng tạo ra hệ thống 10 chữ số (bao gồm cả số "0") mà nhân loại ngày nay đang sử dụng, tính được số Pi (\(\pi = 3,1416\)) và thành thạo về đại số, hình học.
  • Thiên văn học: Biết rõ Trái Đất và Mặt Trăng có hình cầu, hiểu biết về các hành tinh và xây dựng hệ thống lịch pháp.
  • Vật lý và Hóa học: Đề xuất sớm về thuyết nguyên tử, hiểu biết về lực hấp dẫn của Trái Đất, cùng kỹ thuật luyện kim và chế tạo kim loại chống ăn mòn.
  • Y – Dược học: Ghi chép sâu về bệnh lý, giải phẫu, sử dụng thảo mộc và thực hiện thành thạo các ca phẫu thuật từ rất sớm.
Cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885–1896) là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu và lớn nhất trong phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX. 1. Lãnh đạoPhan Đình Phùng (1847–1895): Đình nguyên Tiến sĩ, nhà yêu nước có tầm nhìn chiến lược, uy tín lớn và ý chí kiên cường giữ vai trò thủ lĩnh tối cao.Cao Thắng (1864–1893): Tướng lĩnh tài ba, người có công lớn trong việc tổ chức, rèn đúc vũ khí và xây dựng lực lượng cho nghĩa quân. 2. Địa bàn hoạt động và căn cứ
  • Địa bàn hoạt động: Rộng lớn gồm 4 tỉnh Bắc Trung Kỳ: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
  • Căn cứ chính: Đặt tại Ngàn Trươi (Vụ Quang, Hương Khê, Hà Tĩnh) – vùng rừng núi hiểm trở, có hệ thống công sự vững chắc.
  • Tổ chức: Nghĩa quân được phiên chế quy củ thành 15 quân thứ, mỗi quân thứ gồm từ 100 đến 500 người do các tướng tài chỉ huy.
3. Diễn biến chínhCuộc khởi nghĩa trải qua hai giai đoạn lớn:
  • Giai đoạn 1 (1885 – 1888): Xây dựng lực lượng và chuẩn bị
    • Lo chiêu mộ, huấn luyện quân đội, xây dựng hệ thống công sự và tích trữ lương thảo.
    • Tự chế tạo thành công súng trường theo mẫu súng năm 1874 của Pháp.
  • Giai đoạn 2 (1888 – 1896): Thời kỳ chiến đấu quyết liệt
    • Nghĩa quân sử dụng linh hoạt chiến thuật du kích, dựa vào địa hình hiểm trở để phục kích, tập trung đánh các đoàn tiếp tế, công đồn và đẩy lùi nhiều cuộc hành quân càn quét của Pháp.
    • Tiêu biểu là trận đánh lớn ngày 17/10/1894 tại Ngàn Sươi khiến quân Pháp thiệt hại nặng nề.
    • Từ năm 1893, Cao Thắng hy sinh trong một trận chiến, lực lượng dần chịu tổn thất. Ngày 28/12/1895, Phan Đình Phùng bị thương nặng và hy sinh. Sau khi chủ tướng mất, phong trào suy yếu dần và tan rã vào năm 1896, khép lại giai đoạn đấu tranh chống Pháp dưới ngọn cờ Cần vương.

Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ lãnh đạo

Diễn biến chính của cuộc khởi nghĩa

  • Năm 1771: Ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ phất cờ khởi nghĩa tại Tây Sơn thượng đạo (An Khê, Gia Lai) để chống lại chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
  • Năm 1773: Nghĩa quân Tây Sơn chiếm được phủ thành Quy Nhơn, sau đó kiểm soát vùng đất rộng lớn từ Quảng Nam đến Bình Thuận.
  • Năm 1774: Quân Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài vượt sông Gianh đánh chiếm Phú Xuân, chúa Nguyễn phải chạy vào Gia Định.
  • Năm 1777: Quân Tây Sơn lật đổ và tiêu diệt chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
  • Năm 1778: Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, đóng đô ở thành Đồ Bàn (Quy Nhơn, Bình Định).
  • Đầu năm 1785: Nguyễn Huệ chỉ huy quân Tây Sơn đánh tan 5 vạn quân Xiêm xâm lược trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút (Tiền Giang).
  • Năm 1786: Quân Tây Sơn hạ thành Phú Xuân, giải phóng toàn bộ vùng đất Đàng Trong, rồi tiến ra Bắc lật đổ chính quyền chúa Trịnh.
  • Năm 1788: Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế (niên hiệu Quang Trung), tiếp tục tiến quân ra Bắc.
  • Năm 1789: Vua Quang Trung chỉ huy quân Tây Sơn đại thắng trận Ngọc Hồi - Đống Đa, quét sạch 29 vạn quân Thanh xâm lược. [1, 2, 3, 4]


Hệ tuần hoàn ở người giữ vai trò vận chuyển máu chứa oxy, chất dinh dưỡng và hormone đi nuôi các cơ quan, đồng thời đào thải chất thải ra khỏi cơ thể.