Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tham khảo
Trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông mỗi mùa lại mang những sắc thái đặc điểm riêng biệt khác nhau, đa số mọi người đều không thích mùa hè vì không khí nóng bức, tiết trời oi ả thì em lại thích mùa hè với tiếng ve và nắng vàng rực rỡ.
Có lẽ vì mùa hè quá nóng nực và khắc nghiệt nên học sinh cũng được nghỉ hè, nhắc đến hè là nhắc đến những ngày nắng như thiêu như đốt, mặt trời rọi suốt từ sáng sớm đến tối muộn không có bóng râm không hề ngơi nghỉ. Dưới ánh nắng bỏng rát những mái nhà như muốn bốc khói, cây cối rũ rượi héo úa ngả nghiêng như sắp kiệt sức. Chim chóc khô cổ chẳng thèm hót, đàn gà lười bới mà núp vào bóng râm của cây cối, ngay cả con người dưới thời tiết mùa hè cũng rất khó chịu. Thế nhưng mùa hè lại có những cơn mưa rào giải nhiệt, mưa đến như một món quà phép màu, tưới mát cho cây cối, làm nguội đường xá, nhà cửa, xua tan cái nóng trong phút chốc. Mùa hè còn có tiếng ve, tuy hơi inh ỏi nhưng lại là đặc trưng không thể thiếu của mùa hè, em thích nghe tiếng ve, nhất là những tiếng kêu ngân dài ra lặp đi lặp lại rất du dương và thú vị. Em thích màu hè cũng bởi mùa này có nhiều hoa quả rất ngon, như mít, ổi, xoài, nhãn, vải,...
Em yêu thích mùa hè và em sẽ cố gắng bảo vệ môi trường, không làm trái đất nóng thêm để chúng ta sẽ có những mùa hè dễ chịu hơn.
- Mở bài
Ngẫu nhiên viết nhân buổi về quê là một bài thơ viêt nhân ngày trở lại thăm quê cũ của Hạ Tri Chương. Bài thơ là lời tâm sự, là tâm trạng man mác buồn của người con xa quê đã rất lâu. Bởi ngày trở về, tóc đã bạc, cảnh xưa vẫn đây nhưng những người quen chẳng còn ai không ai còn nhận ra ông.
2. Thân bài
Câu 1:
+ Câu thơ nói về một hoàn cảnh đối nghịch: ngày ra đi vẫn còn trẻ, ngày về đã già Thiếu tiểu – Lão đại.
+ Thời gian xa quê quá dài, quá nửa một đời người.
+ Tâm trạng man mác buồn, ngậm ngùi tiếc nuối.
Câu 2:
+ Thời gian xa cách quê hương chỉ có thể làm thay đổi hình dạng bên ngoài nhưng không làm thay đổi bản chất, tấm lòng của người con đối với quê hương.
+ Thể hiện tấm lòng thuỷ chung, gắn bó tha thiết với quê hương.
Câu 3:
+ Người quê xa quê lâu ngày trở về bỗng trở thành khách lạ.
+ Một nghịch lí và cũng là lẽ thường tình.
Câu 4:
+ Câu thơ có chút hóm hỉnh.
+ Gợi cho nhà thơ nỗi buồn bâng khuâng.
3. Kết bài
Bài thơ thể hiện tình cảm sâu nặng của tác giả với quê hương đó là một tình cảm thuỷ chung, gắn bó, chân tình. Đồng thời thể hiện nỗi buồn của một người khao khát được về thăm quê vậy mà khi trở về chẳng ai còn nhận ra mình nữa.
"Không thầy đó mày làm nên" câu nói thể hiện rất rõ công ơn của thầy cô đối với mỗi người chúng ta. Với tôi cũng thể, người giáo viên khiến tôi có nhiều kỉ niệm sâu sắc nhất đó là thầy Huy, Thầy chủ nhiệm của tôi hồi năm tôi học lớp 8. Lớp 8, cái tuổi tôi mang trong mình sự ngông cuồng, sự ương bướng của chàng trai trẻ. Tôi bỏ bê học hành, theo lũ bạn đi chơi hết nơi này đến nơi khác, đánh nhau, trêu đùa, ăn trộm vặt... Từ một đứa hiền lành ngoan ngoãn, tôi trở thành một đứa bé hư, không coi trời cao đất dày ra gi. Cha mẹ tôi buồn lắm, Thầy Huy cũng rất buồn. Nhưng chính thầy đã cố gắng kéo tôi lại, khuyên bảo tôi, đưa tôi ra khỏi vũng bùn xã hội, Thầy uốn nắn, chỉ bảo tôi, giúp tôi vượt qua khó khăn, để trở thành một đứa trẻ ngoan và bản lĩnh như ngày hôm nay.
tick mình nha bẹn, pls
Nguyễn Khuyến và Bà Huyện Thanh Quan là hai nhà thơ nổi tiếng của xã hội xưa .Hai nhà thơ đều để lại những bài thơ đến bây giờ đang còn lưu truyền trong nhân gian.Trong các bài thơ của Nguyễn Khuyến và Bà Huyện Thanh Quan mình thích nhất là bài thơ "Bạn đến chơi nhà" Và "Qua Đèo Ngang".Cả 2 bài thơ đều kết thúc bằng cụm từ "ta với ta".
Bài thơ "Bạn đến chơi nhà" của Nguyễn Khuyến kể về tình bạn tri âm tri kỉ,một tình bạn vượt qua mọi lễ nghi
=>Cụm từ "ta với ta" ở đây là nhà thơ Nguyễn Khuyến và bạn của Nguyễn Khuyến=>tuy hai mà một.
Bài thơ "Qua Đèo Ngang" của Bà Huyện Thanh Quan thể hiện tâm sự nhớ nước,thương nhà của một nữ sĩ tha hương trước cảnh đèo núi hoang vu vắng vẻ.
=>Cụm từ "ta với ta" ở đây là nhà thơ trong tâm trạng cô đơn,lẻ loi của tác giả.
Cả hai bài thơ đều là hai tác phẩm văn học đặc sắc trong thơ văn Việt Nam
Cụm từ "ta với ta" ở bài "Qua Đèo Ngang" thể hiện sự cô đơn đến tột độ của tác giả giữa Đèo Ngang hùng vĩ nhưng còn hoang sơ, thấp thoáng sự sống con người. Còn cụm từ "ta với ta" ở bài"Bạn Đến Chơi Nhà" nói lên tình bạn của Nguyễn Khuyến, bạn của ông nói riêng và của tất cả chúng ta nói chung không phải chỉ dựa vào vật chất mà còn dựa vào tình cảm.Qua đó cho nói lên trong tình bạn nếu có được cả tình cảm lẫn vật chất thì là tốt nhất.Nhưng tình cảm vẫn là yếu tố quan trọng nhất để làm nên một tình bạn lâu bền.
Câu 1:Thể thơ:Thất ngôn tứ tuyệt đường luật
Đặc điểm của thể thơ:
+Số câu:4 câu,mỗi câu 7 chữ,hiệp vần gieo vần câu 1,2,4,ngắt nhịp 4/3,3/4.....
Câu 2:Dù đã đi xa quê cả nửa cuộc đời thế nhưng những thanh âm thuộc về quê hương với những giọng nói của quê hương không hề có sự thay đổi. Những điều đó đi theo ông như luôn gợi nhớ tất cả những gì thuộc về quê hương của người đàn ông đã đi nơi xứ người bao nhiêu năm. Chỉ với hai câu thơ nhưng chúng ta đã cảm nhận được sự tự hào của tác giả khi nói về quê hương của mình và những mong đợi khi tác giả được trở về với quê hương vào nửa cuối cùng của cuộc đời con người.
Câu 3:
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiểu vấn: khách tòng hà xứ lai?
(trẻ con nhìn lạ không chào
Hỏi rằng: khách ở chốn nào lại chơi?)
Nếu như hai câu thơ đầu giọng thơ có chứa sự tự hào thì ở hai câu tiếp theo, giọng thơ lại mang theo sự chua xót khi tác giả thực sự trở lại quê hương của mình. Đặt chân lên mảnh đất của quê hương, tác giả đã được nhìn thấy những cảnh vật thân thương và gần gũi của quê hương mình. Thế những, lũ trẻ con nhìn thấy ông lại không hề biết ông là ai, còn hỏi rằng ông là khách ở chốn nào. Chua xót thay,, trở về quê hương, trở về nhà của chính mình nơi mà mình đã được sinh ra và lớn lên mà lại bị hỏi là khách ở chốn nào. Đó chính là nỗi buồn của những người xa quê lâu năm như chính tác giả vậy. Những hình ảnh đó có lẽ cũng giống như ông khi ông còn nhỏ. Lúc ấy, ông cũng cùng với những đứa trẻ khác cùng nhau chơi ở ngoài đình và cũng nhìn những người lạ mặt đi từ nơi khác tới. Nay khi tuổi đã già, mái tóc đã không còn đen, làn da không còn hồng hào khỏe mạnh và đôi mắt cũng không còn trong sáng nữa thì lại bị coi như những người lạ tới thăm quê hương.
* Bài viết tham khảo: Phân tích nhân vật Dế Mèn trong Đoạn trích “BÀi học đường đời đầu tiên”
Dế Mèn phiêu lưu ký” là một tác phẩm nổi tiếng dành cho thiếu nhi. Nổi bật trong truyện là Dế Mèn được nhà văn Tô Hoài khắc họa vô cùng chân thực và sinh động.
Dế Mèn chỉ vì thói kiêu căng, ngạo mạn của mình đã khiến cho Dế Choắt - người bạn hàng xóm yếu ớt phải chết oan uổng. Mở đầu đoạn trích, nhà văn đã khắc họa đặc điểm ngoại hình của Dế Mèn. Chàng ta hiện lên với một thân hình cường tráng, khỏe mạnh. Với đôi càng mẫm bóng, chiếc cánh ngày xưa chỉ như chiếc áo ghi lê ngắn tủn tới ngang mông thì nay dài như một chiếc áo khoác choàng ngoài. Cái đầu to nổi lên từng tảng trông rất oai vệ. Hàm răng đen nhánh sắc nhọn nhai cỏ cứ “ngoàm ngoạp” như một chiếc máy sản xuất, nên Dế Mèn càng lớn nhanh. Những bước đi bách bộ, cả người rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Chốc chốc dế ta lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu. Dế Mèn kiêu căng nghĩ mình là nhất nê dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm: quát mắng chị Cào Cào, đá ghẹo anh Gọng Vó… Có thể thấy rằng nhà văn Tô Hoài đã vô cùng tinh tế trong việc nhân vật Dế Mèn.
Nhưng một tình huống xảy ra khiến cho Dế Mèn không còn kiêu căng, ngạo mạn nữa. Dế Choắt - người bạn hàng xóm thường vị Dế Mèn giễu cợt vì vẻ ngoài ốm yếu còi cọc, quanh năm mắc bệnh hen suyễn động tí là thở dốc, mệt mỏi. Người Dế Choắt dài lêu nghêu như một người nghiện ma túy, trông thật xấu xí vô cùng. Nếu Dế Choắt luôn tôn trọng, thậm chí coi Dế Mèn là bậc đàn anh. Thì Dế Mèn lại thiếu tình thương sự cảm thông với bạn mình. Dế Choắt nhờ Dế Mèn đào một cái hang thông sang nhà, để phòng lúc hoạn nạn có chỗ thoát thân. Nhưng Dế Mèn lại lên giọng giễu cợt bạn rồi bỏ về. Một hôm, Dế Choắt và Dế Mèn đứng trước cửa hang của mình nhìn thấy chị Cốc đang tìm tôm tép kiếm ăn. Dế Mèn nổi hứng muốn chọc tức chị Cốc mặc Dế Choắt can ngăn. Cuối cùng, Dế Choắt phải chịu tội thay Dế Mèn, bị chị Cốc mổ cho đến chết. Nghe tiếng kêu thảm thiết của Dế Choắt, Dế Mèn kinh hãi nhưng cũng không dám ra cứu. Chờ tới lúc nghe ngóng tiếng bước chân chị Cốc đi xa rồi mới dám mò sang hang Dế Choắt xem tình hình thì thấy Dế Choắt nằm thoi thóp sắp chết rồi. Chỉ lúc này, Dế Mèn mới ân hận, nhận ra được sai lầm của mình.
Nhà văn đã cho chúng ta thấy ở đời nếu hunghăng hống hách thì chỉ có rước họa vào than.
Phần
Nội dung trong bài viết tham khảo (Trang 51)
Chức năng quy chuẩn
Mở đoạn
Giới thiệu nhan đề bài thơ
"Đồng dao mùa xuân"
, tác giả
Nguyễn Khoa Điềm
và nêu cảm xúc khái quát:
"để lại ấn tượng sâu sắc", "xúc động"
về hình ảnh người lính.
Giới thiệu tác giả, tác phẩm và cảm xúc chung.
Thân đoạn
•
Cảm xúc về hình ảnh người lính lúc sinh thời:
Sự ngây thơ, hồn nhiên (
"chưa một lần yêu"
,
"còn mê thả diều"
), hành trang giản dị (
"ba lô con cóc"
) nhưng dũng cảm ra trận.
•
Cảm xúc về sự hy sinh:
Nỗi đau xót khi anh không về nữa, nhưng sự hy sinh ấy đã hóa thân vào đất trời, trở thành ngọn lửa bất tử.
•
Cảm xúc về nghệ thuật:
Thể thơ 4 chữ như lời đồng dao, nhịp điệu dồn dập, cách ngắt nhịp linh hoạt.
Trình bày chi tiết các biểu hiện cảm xúc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Trích dẫn từ ngữ, hình ảnh làm căn cứ.
Kết đoạn
Khẳng định lại giá trị của bài thơ và bày tỏ
lòng biết ơn, sự trân trọng
của người viết đối với những người lính đã hi sinh.
Khẳng định lại cảm xúc và rút ra bài học nhận thức.
Bài viết tham khảo "Đồng Dao Mùa Xuân - một bài thơ xúc động về người lính" được phân tích theo các phần mở đoạn, thân đoạn và kết đoạn.
Trong câu mở đoạn, có thể có những yếu tố như giới thiệu về tác phẩm, tác giả, nội dung chính của bài thơ, hoặc một sự tóm tắt ngắn gọn về nội dung của bài thơ. Câu mở đoạn thường đặt ở đầu bài viết để giới thiệu cho độc giả biết về bài thơ.
Trong câu thân đoạn, có thể có những câu nói về nội dung hoặc nghệ thuật của bài thơ. Câu thân đoạn thường đi sâu vào phân tích, đánh giá và trình bày các ý kiến, quan điểm của tác giả về bài thơ. Câu thân đoạn thường là phần chính của bài viết, nơi mà người viết có thể phân tích, diễn giải và đưa ra ý kiến cá nhân về bài thơ.
Câu kết đoạn thường là phần cuối cùng của bài viết, có thể là một tóm tắt ngắn gọn về nội dung và ý nghĩa của bài thơ, hoặc là một nhận xét tổng quát về bài thơ. Câu kết đoạn thường có mục đích để kết thúc bài viết một cách hợp lý và để lại ấn tượng cuối cùng cho độc giả.
Tuy nhiên, để phân tích chi tiết về câu mở đoạn và câu thân đoạn trong bài viết "Đồng Dao Mùa Xuân - một bài thơ xúc động về người lính" trên trang 51 của sách giáo khoa, cần có thông tin cụ thể về nội dung của bài viết.